Cần sớm có biện pháp quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tới đây hoạt động đầu tư ra nước ngoài cần phải được chấn chỉnh theo hướng xác định rõ vai trò quản lý nhà nước
Các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư tại 53 quốc gia và vùng lãnh thổ ở hầu hết các châu lục. Riêng giai đoạn 2006 - 2010 đã có trên 410 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt trên 7 tỉ USD.
Tuy nhiên, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến nay mới có khoảng 300 trên tổng số 558 dự án đầu tư ra nước ngoài có báo cáo về nước cho thấy, doanh thu luỹ kế của các dự án đầu tư đã đi vào hoạt động đạt 981 triệu USD, nhưng lợi nhuận đã chuyển về nước chỉ có 39 triệu USD.
Nếu tính tỉ suất lợi nhuận và khả năng thu hồi vốn đầu tư thì các dự án đầu tư ra nước ngoài có hiệu quả không cao. Mặc dù, tốc độ chuyển vốn ra nước ngoài năm sau cao hơn năm trước, song tỉ suất lợi nhuận giữa vốn chuyển về nước và vốn chuyển ra nước ngoài đạt tỉ lệ rất thấp với 0,46% cho cả giai đoạn hơn 10 trở lại đây.
Từ hiện tượng trên cho thấy, về ngắn hạn, đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đang tạo nên sự mất cân đối lớn giữa dòng tiền đầu tư ra và dòng tiền chuyển về nước của các dự án, tạo thêm gánh nặng cán cân thanh toán trong bối cảnh cán cân thanh toán của Việt Nam đang bị thâm hụt lớn.
Nguyên nhân của tình trạng này là do các dự án đa phần mang tính dài hạn, tập trung vào các lĩnh vực có thời gian thu hồi vốn dài. Bên cạnh đó, các dự án đầu tư ra nước ngoài được thực hiện chủ yếu bằng vốn chủ sở hữu nhà nước (ước lên tới 1 tỉ 240 triệu USD, chiếm 69% tổng nguồn vốn ra nước ngoài).
Song đến nay, hành lang pháp lý vẫn còn lỏng lẻo, chưa có cơ chế giám sát riêng về đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí quản lý đối với doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, trong khi việc chấp hành chế độ báo cáo của hầu hết các doanh nghiệp theo Nghị định 78 hiện hành chưa tốt.
Trong khi đó, nhiều dự án sau khi có doanh thu, lợi nhuận và khả năng thu hồi vốn, nhưng chủ đầu tư không báo cáo, chưa chuyển tiền về nước hoặc sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư, có dự án thậm chí đã chấm dứt hoạt động, nhưng các cơ quan chức năng Việt Nam cũng không quản lý được. Thực tế này dẫn đến tình trạng không ít cơ quan chức năng Việt Nam e ngại khâu thẩm định, cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án ra nước ngoài./.