Đảm bảo tự chủ, an toàn trong hoạt động ngân hàng và tín dụng

Từ 1/1/2011, hai Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) bắt đầu có hiệu lực.

Hai Luật này đã kế thừa và phát huy những ưu điểm, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập của những quy định hiện hành về tổ chức hoạt động của NHNN Việt Nam cũng như việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát hoạt động của các TCTD.

Nâng cao trách nhiệm, thẩm quyền và tính chủ động của NHNN

Một điểm mới đáng chú ý trong Luật NHNN là quy định NHNN công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản, các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ và chống cho vay nặng lãi.

Trong cuộc trao đổi với báo chí về những nội dung được sửa đổi, bổ sung, các điểm mới trong Luật Ngân hàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết: Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thay đổi nội hàm lãi suất cơ bản theo hướng không công bố “trước” lãi suất cơ bản để định hướng lãi suất thị trường mà thực hiện cơ chế công bố “sau” về lãi suất đã được hình thành trên thị trường của các tổ chức tín dụng để làm cơ sở cho việc phòng, chống cho vay nặng lãi trong nền kinh tế.

Thống đốc cho rằng, trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ sẽ từng bước được thực hiện thông qua việc sử dụng ngày càng nhiều các công cụ gián tiếp, đặc biệt là việc Ngân hàng Trung ương sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để tác động đến các mức lãi suất ngắn hạn, qua đó, tác động đến tỷ lệ tăng cung tiền và tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Trong quá trình này, thông thường các Ngân hàng Trung ương đều muốn đưa ra một tín hiệu rõ ràng về mức lãi suất cho vay ngắn hạn mà mình mong muốn. Đây là lý do tại sao các Ngân hàng Trung ương thường công bố một số lãi suất điều hành chính sách của mình.

Quy định về lãi suất trong Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 đã tách lãi suất điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp và chống cho vay nặng lãi, vừa đảm bảo để Ngân hàng Nhà nước điều hành, thực thi chính sách tiền tệ, vừa có cơ sở để áp dụng quy định của các luật liên quan như Luật Dân sự, Hình sự, Lao động, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước….

Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các TCTD với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác.

Hoạt động cho vay của NHNN cũng được quy định rộng hơn trong trường hợp cho vay đặc biệt. NHNN được cho vay không những đối với các TCTD đã “lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả” như quy định trong Luật hiện hành mà cả đối với TCTD hoạt động bình thường nhưng “có nguy cơ mất khả năng chi trả do các sự cố nghiêm trọng khác” để bảo đảm có thể can thiệp sớm hơn, hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, Luật NHNN cũng quy định rõ trách nhiệm giải trình, báo cáo của NHNN trước Quốc hội, Chính phủ và công chúng. Đây là nội dung mới, quan trọng trong hoạt động của NHTW nhằm minh bạch hóa, công khai hóa các quyết định trong điều hành của mình không những với cơ quan cấp trên mà còn với công chúng, thị trường.

Thẩm quyền của NHNN trong việc giám sát an toàn hoạt động của các TCTD cũng được xác định rõ thông qua hoạt động giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, cùng với việc thành lập Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng thuộc NHNN để đảm bảo sự quản lý chặc chẽ hơn đối với hệ thống TCTD.

Về thẩm quyền quyết định chính sách tiền tệ của Việt Nam, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 cũng đã phân định rõ “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát; quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.”

“Theo đó, Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm được thể hiện thông qua chỉ số giá tiêu dùng; Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia”- Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết.

Còn về vấn đề quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước, theo Thống đốc Nguyễn Văn Giàu: “Kể từ khi hình thành vào năm 1991 đến nay, dự trữ ngoại hối nhà nước của Việt Nam được Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước quản lý luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm nguồn lực để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, chính sách tỷ giá, đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế và đáp ứng nhu cầu ngoại hối đột xuất cấp bách của Nhà nước.

Dự trữ ngoại hối là một hạng mục tài sản Có trong Bảng cân đối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và được coi là một tài sản bảo đảm cho giá trị tiền trong lưu thông. Quỹ Dự trữ ngoại hối Nhà nước được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó chủ yếu là để can thiệp thị trường ngoại hối nhằm ổn định giá trị đồng tiền thông qua nghiệp vụ mua bán ngoại tệ với các tổ chức tín dụng. Quỹ Dự trữ ngoại hối Nhà nước được quản lý dưới nhiều hình thức như tiền gửi, đầu tư vào trái phiếu Chính phủ các nước G7…để đáp ứng nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ của nền kinh tế, vừa để sinh lời, đảm bảo giá trị của Quỹ.

Việc quy định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý quỹ Dự trữ ngoại hối Nhà nước theo quy định của Chính phủ là phù hợp với pháp luật hiện hành về quản lý ngoại hối. Trong trường hợp việc sử dụng Dự trữ ngoại hối làm thay đổi dự toán Ngân sách nhà nước thì thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách”.

Đảm bảo tính tự chủ và an toàn trong hoạt động các TCTD

Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 không quy định phân biệt phạm vi hoạt động của từng loại hình tổ chức tín dụng nên khi triển khai thực hiện đã gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt trong việc xác định loại nghiệp vụ mà một loại hình tổ chức tín dụng cụ thể được phép thực hiện, do vậy đã ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển của các loại hình tổ chức tín dụng.

Chính vì vậy, theo Thống đốc Nguyễn Văn Giàu: tại Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đã quy định cụ thể phạm vi hoạt động của từng loại hình tổ chức tín dụng, trong đó lấy hoạt động của ngân hàng thương mại làm căn cứ dẫn chiếu khi quy định phạm vi hoạt động của tổ chức tín dụng khác.

Ranh giới phân biệt hoạt động giữa các tổ chức tín dụng là ngân hàng và các tổ chức tín dụng không phải là ngân hàng (tổ chức tín dụng phi ngân hàng) được làm rõ hơn, theo đó các tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được phép nhận tiền gửi của dân cư (của các cá nhân), không được cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Quy định này phù hợp hơn với thông lệ áp dụng tại hầu hết các nước và một mặt giảm bớt được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, mặt khác cho phép các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được mở rộng phạm vi cung ứng các dịch vụ ngân hàng do các quy định về an toàn sẽ được áp dụng ở mức độ thấp hơn.

Luật Các tổ chức tín dụng 2010 cũng quy định rõ những nghiệp vụ tổ chức tín dụng đương nhiên được kinh doanh; những nghiệp vụ kinh doanh phải được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, những nghiệp vụ khi thực hiện phải thành lập công ty con, công ty liên kết và những nghiệp vụ tổ chức tín dụng không được thực hiện.

Đối với đảm bảo an toàn hệ thống: Hoạt động của các tổ chức tín dụng có những tác động lớn đến sự ổn định xã hội, phát triển kinh tế của đất nước, vì với tư cách là các trung gian tài chính, tổ chức tín dụng là những doanh nghiệp có khả năng huy động và sử dụng nguồn vốn rất lớn trong xã hội. Việc quản lý thiếu chặt chẽ có thể dẫn đến đổ vỡ tổ chức tín dụng, gây ra sự mất lòng tin trong nhân dân và đe dọa sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng cũng như của cả nền kinh tế. Do vậy, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đã có nhiều quy định để nâng cao mức độ an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trên cơ sở quán triệt quan điểm: tổ chức tín dụng là các doanh nghiệp đặc biệt, cần được quản lý một cách đặc biệt và tiếp cận sát với thông lệ quốc tế về các yêu cầu bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng (các nguyên tắc của Uỷ ban Basel).

Với mục tiêu nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong quản lý nhà nước của NHNN đối với các TCTD, Luật các TCTD đã quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng tổ chức và công tác quản trị, điều hành, kiểm soát của từng loại hình TCTD.

Theo Thống đốc Nguyễn Văn Giàu, đây là các nội dung được thay đổi nhiều nhất, lớn nhất tại Luật Các tổ chức tín dụng 2010. Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 thiếu các quy định cụ thể, đặc thù về tổ chức, quản trị, điều hành, kiểm soát của các tổ chức tín dụng, do vậy, trên thực tiễn đã phát sinh xung đột giữa các quy định hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (có giá trị pháp lý thấp hơn so với các Luật) với các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Cạnh tranh, Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản.... Điều này đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng. Do vậy, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đã quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng về tổ chức và công tác quản trị, điều hành, kiểm soát của từng loại hình tổ chức tín dụng.

Mặc dù, các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành đối với tổ chức tín dụng được xây dựng trên cơ sở các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã nhưng vẫn có nhiều điểm khác biệt so với các Luật này để phù hợp với đặc thù trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, trên nguyên tắc là đưa ra các yêu cầu cao hơn về tổ chức, quản trị, điều hành tổ chức tín dụng so với các doanh nghiệp thông thường. Những nội dung có thể áp dụng được Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã thì không được quy định lại trong Luật các tổ chức tín dụng để tránh trùng lắp và bảo đảm để những quy định chung vẫn có thể được áp dụng khi có thay đổi trong Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã./.

Hai Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi) và Luật các Tổ chức Tín dụng (sửa đổi) được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII.

Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gồm 7 chương, 66 Điều. Trong đó, bổ sung mới 26 điều, sửa đổi, bổ sung 38 điều, giữ nguyên 5 điều và huỷ bỏ 4 điều trong Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2003.

Luật các Tổ chức Tín dụng (sửa đổi) gồm 163 điều, 10 chương.

Từ ngày 1/1/2011, hai luật này bắt đầu có hiệu lực, các Luật: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2003; Luật Các tổ chức tín dụng số 02/1997 và Luật số 20/2004/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng sẽ hết hiệu lực.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.