Giải pháp nào cho hạn chế nhập siêu
Việc kiềm chế nhập siêu phải được tiến hành rất thận trọng, có tính toán để giảm thiểu tác động đến kinh doanh và xuất nhập khẩu.
4 tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu nước ta đạt trên 31,83 tỷ USD, tăng hơn 29% so với cùng kỳ năm ngoái. Tình trạng nhập siêu quá lớn từ một số thị trường nước ngoài do nước ta trong giai đoạn đang đầu tư phát triển, đầu tư cho sản xuất với phần lớn máy móc phải nhập khẩu, sản xuất chưa đủ hay chưa tự sản xuất được... đã đẩy thâm hụt thương mại của nước ta ngày càng tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát.
Những tác động tiêu cực
Theo các chuyên gia kinh tế, nguyên nhân của tình trạng nhập siêu của Việt Nam hiện nay là do Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản là những thị trường lớn cung cấp nhiều loại hàng hóa cho Việt Nam đã đẩy thâm hụt thương mại của Việt Nam với các nước này ngày càng lớn. Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam là nhóm hàng nguyên phụ liệu của ngành dệt may, da giày; máy móc thiết bị, linh kiện điện tử; sắt thép; ô tô, xe máy nguyên chiếc; linh kiện ô tô; chất dẻo nguyên liệu; xăng dầu các loại; mỹ phẩm; đồ dùng gia đình...
Ông Phan Thế Ruệ, nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Chủ tịch Hiệp hội bán lẻ Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thì việc nhập khẩu hàng tiêu dùng là điều tất yếu, tuy nhiên vấn đề đặt ra là nhu cầu của người tiêu dùng tăng mạnh trong khi ngành công nghiệp trong nước chưa đủ sức đáp ứng nhất là những sản phẩm thiết yếu sẽ làm gia tăng nhập khẩu. Điều này đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, ổn định vĩ mô và kiềm chế lạm phát của đất nước.
“Nhập siêu và thâm hụt ngân sách có thể nói là “kẻ thù số 1” của nền kinh tế Việt Nam, của nền kinh tế vĩ mô. Chúng ta xuất thì ít mà nhập thì nhiều, rõ ràng để mất một nguồn ngoại tệ rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu ngoại tệ của Việt Nam và tác động đến tỷ giá của Việt Nam. Đặc biệt tác động đến dự trữ ngoại tệ. Khi chúng ta nhập siêu lớn thì tác động đến dự trữ ngoại hối, cung cầu ngoại tệ, chi tiêu quốc gia và tác động đến giá thực của đồng tiền Việt Nam. Nhập siêu là một trong những nguyên nhân làm cho kinh tế vĩ mô không ổn định”- ông Phan Thế Ruệ nói.
Kiểm soát chặt chẽ những mặt hàng nhập khẩu không thiết yếu
Để đạt được mục tiêu giảm nhập siêu trong bối cảnh kinh tế hiện nay thì kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng nhập khẩu không thiết yếu là cần thiết bởi điều này sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước vươn lên chiếm lĩnh thị trường nội địa, sản xuất trong nước có điều kiện giành thêm giá trị gia tăng.
Theo ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nhằm hạn chế nhập siêu cần phải xây dựng hàng rào kỹ thuật, phân tích rõ cơ cấu nhập khẩu số lượng lớn hàng tiêu dùng không thiết yếu để biết được những mặt hàng nào trực tiếp phục vụ sản xuất và những mặt hàng gì chỉ phục vụ cho cuộc sống hằng ngày của người dân. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý sẽ định hướng chính sách rà soát để có cơ sở cấp vốn vay nhập hàng, cũng như sử dụng các biện pháp khác, trong đó có việc cấp giấy phép tự động, nhằm hạn chế nhập khẩu những mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu.
Ông Võ Trí Thành phân tích: Để xử lý vấn đề nhập siêu là vấn đề rất phức tạp liên quan đến mô hình phát triển kinh tế, cách thức đầu tư; liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam; liên quan đến mạng sản xuất và chuỗi giá trị của khu vực và thế giới, liên quan đến chính sách vĩ mô của Việt Nam, (ví dụ chính sách tỷ giá). Để xử lý vấn đề này không phải là ngày một ngày hai mà liên quan đến tổng thế rất nhiều vấn đề từ bình ổn kinh tế vĩ mô đến cải tổ lại toàn bộ nền kinh tế...
Theo các điều khoản về cán cân thanh toán của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các nước thành viên có quyền áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu với những điều kiện nhất định nhằm bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán. Trong trường hợp các nước đang phát triển, biện pháp này còn để bảo đảm mức dự trữ đủ để thực hiện các chương trình phát triển kinh tế. Việc mở cửa nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là gia nhập WTO và tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do đã làm gia tăng nhập khẩu. Nếu nhập khẩu tăng làm nảy sinh những vấn đề mới cho nền kinh tế trong nước thì Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu, miễn là phù hợp với luật pháp trong nước và các cam kết quốc tế.
Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên cho rằng, nếu siết mạnh quản lý nhập khẩu sẽ gây trở ngại cho phát triển của nền kinh tế trên mọi phương diện, do đó việc xuất khẩu và kiềm chế nhập siêu phải được tiến hành một cách thận trọng nhất là trong bối cảnh hội nhập hiện nay, khi sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung cũng như của doanh nghiệp nói riêng và của một số sản phẩm hàng hóa đã không cạnh tranh được với hàng nước ngoài, nếu chúng ta siết quá mạnh, quá đột ngột, sẽ làm tắc nghẽn hoạt động kinh tế trên mọi phương diện, tác động sẽ nguy hại hơn. Cho nên việc điều hành xuất nhập khẩu và kiềm chế nhập siêu phải được tiến hành rất thận trọng, có tính toán để giảm thiểu tác động đến kinh doanh và xuất nhập khẩu.
Để hạn chế nhập siêu trong bối cảnh kinh tế hiện nay, việc tăng rào cản thuế và phi thuế đối với hàng nhập khẩu không thiết yếu phục vụ sản xuất tiêu dùng cần phải tuân thủ lộ trình giảm thuế đã được cam kết. Cần rà soát lại các khoản thuế, dòng thuế với các hàng hóa nhập khẩu, nhất là nhóm hàng hạn chế nhập khẩu và áp dụng đến mức cao nhất mà lộ trình cam kết với Tổ chức thương mại thế giới. Ngoài ra, cần tăng cường kiểm tra giá tính thuế hàng nhập khẩu trong khâu thông quan, thông qua việc đưa vào danh mục quản lý rủi ro từ 13 nhóm mặt hàng lên 20 nhóm mặt hàng vào cuối năm nay./.