Giảm đầu mối giám sát hoạt động DNNN
Hiện có nhiều cơ chế chính sách, nhiều Bộ, ngành cùng tham gia quản lý, giám sát, nhưng lại không có ai chịu trách nhiệm cụ thể về hoạt động của DNNN.
Tính đến thời điểm này, cả nước có 1.026 doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) do Nhà nước nắm giữ 100% vốn và 12 tập đoàn kinh tế. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến đầu năm 2010, các DNNN quản lý vốn kinh doanh là 3.273.947 tỷ đồng, chiếm 37,2% tổng vốn đăng ký kinh doanh của các DN trong cả nước. Đóng góp của kinh tế nhà nước vào GDP hàng năm theo giá thực tế có xu hướng giảm nhẹ, nhưng vẫn duy trì ở mức trên 30% từ năm 2001 đến nay. Đầu tư của khối kinh tế nhà nước nói chung và DNNN nói riêng là một trong những thành phần quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng GDP hàng năm (năm 2010 đóng góp của đầu tư trong GDP chiếm khoảng 41%, trong đó, đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước chiếm xấp xỉ 46%).
![]() |
| Đổ vỡ ở Vinashin là bài học lớn về quản lý kinh tế (ảnh KT) |
Hàng năm, có khoảng 12% DNNN bị thua lỗ trong sản xuất, kinh doanh so với con số 25% của khu vực DN nói chung. Tuy nhiên, mức lỗ bình quân của một DNNN bị lỗ cao gấp 12 lần so với DN ngoài Nhà nước.
Cơ chế giám sát còn lỏng lẻo
Một trong những nguyên nhân để xảy ra tình trạng trên là việc có nhiều cơ chế chính sách, nhiều bộ, ngành cùng tham gia quản lý, giám sát, nhưng lại không có ai chịu trách nhiệm cụ thể, không có tiêu chí đánh giá chuẩn về hiệu quả quản lý, sử dụng vốn...
Đánh giá về thực trạng pháp luật quản trị DNNN hiện nay, Trưởng Ban cải cách và Phát triển DN – (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương – CIEM), ông Trần Tiến Cường khẳng định, pháp luật về quản trị DNNN còn quá lỏng lẻo, chưa đảm bảo để chủ sở hữu (CSH) vốn nhà nước trở thành CSH chuyên nghiệp - nhà đầu tư; chưa tách được chức năng CSH với chức năng quản lý nhà nước, điều tiết thị trường của các bộ, ngành và UBND tỉnh, thành phố. Trách nhiệm giải trình của CSH nhà nước cũng chưa rõ do cơ chế phân công, phân cấp. Đặc biệt, cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các DNNN, Tập đoàn kinh tế Nhà nước (TĐKTNN) chưa thống nhất, thiếu minh bạch, thiếu căn cứ, tiêu chí phù hợp, hệ thống thông tin chưa đầy đủ cũng như chưa quy định rõ trách nhiệm của hội đồng quản trị (HĐQT). Ngoài ra, các quy định về tổng hợp, công bố báo cáo hàng năm, kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập, công khai thông tin, đánh giá kết quả hoạt động... vẫn rất lỏng lẻo.
Cùng chung với những nhận định trên, Phó Viện trưởng CIEM, ông Trần Xuân Lịch và nhiều chuyên gia cho rằng, yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị DNNN và giám sát các TĐKTNN đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bởi trước đây, đã có nhiều cơ chế, chính sách, nhiều bộ, ngành cùng tham gia quản lý, giám sát mà vẫn xảy ra vụ việc đau sót ở Vinashin, đó là bài học rất đắt!
Cũng theo ông Trần Xuân Lịch, vấn đề quản lý đầu tư của DNNN hiện còn nhiều bất cập, Bộ KH & ĐT đã từng đi kiểm tra tình hình đầu tư tại tập đoàn, tổng công ty và thấy rõ, đầu tư của các DN lộn xộn, đồng thời thể hiện sự yếu kém trong giám sát đầu tư.
Trước những bất cập trên, Phó Vụ trưởng Vụ Đổi mới doanh nghiệp, Văn phòng Chính phủ, ông Phạm Anh Tuấn cho rằng, các tiêu chí quản trị, giám sát hoạt động của các DNNN, TĐKT phải được gắn với trách nhiệm của từng cá nhân, cơ quan quản lý, giám sát. Theo quy định, từ 1/7/2010, tất cả các TĐKT, DNNN phải chuyển sang mô hình công ty TNHH 1 thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, đồng thời, các DN sẽ có thêm chức danh kiểm soát viên. Đây là điểm rất mới mà nếu DN nào tổ chức tốt, phát huy được vai trò của kiểm soát viên thì sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý, giám sát, đánh giá của CSH Nhà nước đối với các DNNN, TĐKT. Tuy nhiên, để phát huy được vai trò của kiểm soát viên thì cần làm rõ một số tiêu chí như: Cơ cấu kiểm soát viên? Kiểm soát viên có nên là công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở các bộ, ngành kiêm nhiệm hay không? Thể thức làm việc của kiểm soát viên theo chế độ tập thể hay cá nhân chịu trách nhiệm? Cơ chế trả lương, thưởng và các quyền lợi khác?
Chia sẻ những kinh nghiệm quản trị tại Tập đoàn Bảo Việt, Giám đốc hoạt động của tập đoàn, TS Phạm Khắc Dũng cho biết, để thực hiện hiệu quả vai trò của HĐQT trong việc giám sát chiến lược, quản trị đầu tư, tài chính, quản lý rủi ro thời gian qua, HĐQT của Bảo Việt đã thành lập các uỷ ban chức năng hỗ trợ hoạt động như: Uỷ ban kiểm toán; Uỷ ban thù lao và bổ nhiệm; Uỷ ban chiến lược, đầu tư; Uỷ ban quản lý tài sản nợ - có; Hội đồng quản lý rủi ro. Các uỷ ban này có chức năng kiểm tra, giám sát tính tuân thủ các quy định của pháp luật, quy định nội bộ đối với các hoạt động của ban điều hành, trong đó, mỗi uỷ ban có chức năng riêng biệt, không chịu ảnh hưởng chi phối bởi bộ máy điều hành.
Cũng về vấn đề trên, bà Nguyễn Anh Xuân Trang - Trưởng phòng Dịch vụ kiểm toán nội bộ, rủi ro và tuân thủ thuộc Công ty Kiểm toán quốc tế KPMG cho rằng, để hỗ trợ tốt hoạt động giám sát, kiểm soát hoạt động tại các DN, nhất là các DN lớn, các TĐKT, tổng công ty, công ty mẹ thì các DN đều phải có hoạt động kiểm toán nội bộ giải được ba bài toán: thứ nhất là vị thế, kiểm toán nội bộ có được đặt vào vị trí chiến lược để đóng góp vào hiệu quả hoạt động hay không? Thứ hai, các quy trình kiểm toán có năng lực, năng động trong việc đáp ứng yêu cầu của ban quản trị hay không? Thứ ba, con người, kiểm toán nội bộ có chiến lược nhân sự đúng để thực thi các nhiệm vụ mục tiêu đã đề ra hay không? Khi có các câu trả lời đúng, ắt sẽ định hình được tính chất, chức năng, nhiệm vụ kiểm toán nội bộ của mỗi đơn vị. Khi đó, chắc chắn kết quả thu được cũng như yêu cầu đặt ra trong việc quản lý, giám sát DN sẽ tối ưu.
Cần môi trường cạnh tranh bình đẳng
Theo các chuyên gia thì dường như chưa có một tỷ lệ cố định nào về vốn cho DNNN và tư nhân, nhưng một số ý kiến cho rằng, chỉ nên duy trì tối đa khoảng 30-35% cho DNNN trong nền kinh tế là tối ưu. Nhưng, phải tạo dựng sự phát triển, cạnh tranh bình đẳng giữa DNNN và DN tư nhân. Muốn vậy, phải đặt DNNN vào môi trường cạnh tranh bình đẳng về vốn, đất đai, cơ chế chính sách, tránh tình trạng thao túng chính sách, thông tin, làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh. Đồng thời, phải tách bạch DNNN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh ra khỏi các nghĩa vụ công ích và có cơ chế thưởng - phạt rõ ràng để không xảy ra tình trạng hoạt động lãi thì do cơ chế độc quyền tạo ra, nhưng lỗ thì do làm nghĩa vụ này, nghĩa vụ kia. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với DNNN là phải minh bạch tài chính, thông tin và đặc biệt cần phải khoanh vùng các ưu đãi, hạn chế độc quyền, nhất là độc quyền ngành, lĩnh vực và độc quyền DN.
GS.TS Hansjorg Herr và GS.TS Rainer Stachuletz thuộc Trường Đại học kinh tế và luật Berlin đã đưa ra khuyến cáo: Đối với khu vực DNNN, cần có thông điệp mạnh mẽ bằng việc cổ phần hoá, chuyển đổi sở hữu các DN thuộc những ngành, lĩnh vực nhà nước không cần nắm giữ cổ phân chi phối. Tạo lập môi trường bình đẳng với các thành phần kinh tế khác để cạnh tranh hữu hiệu, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế của khu vực DNNN nhưng cũng tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân có điều kiện phát triển trong thời gian tới.
Các chuyên gia kinh tế đều khẳng định, trong hơn 2 thập kỷ đổi mới vừa qua, nền kinh tế nước ta mới chủ yếu phát triển theo chiều rộng. Nay, đã đến lúc nhà quản lý cần xây dựng, hoạch định chính sách phát triển phù hợp, tạo ra chiều sâu hay nói cách khác, thay vì số lượng, hãy nâng cao chất lượng, giá trị, hiệu quả mang lại cho từng ngành, lĩnh vực và cho cả nền kinh tế./.
