123.000MW nhiệt điện vào năm 2025

Liệu có khả thi?

Do một loạt các nhà máy nhiệt điện chậm tiến độ xây dựng nên thời điểm nhập khẩu than bị đẩy lùi tới năm 2015 và có thể sẽ muộn hơn. Dù vậy, TKV vẫn tỏ ra lo lắng về việc nhập khẩu than trong tương lai.

Hiện nay, tổng nguồn điện của cả nước vào khoảng 18.400MW. Theo chiến lược và quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2005-2015 có xét đến năm 2025, thì riêng phát triển nhiệt điện than là 123.000MW. Trong điều kiện gần 50% dự án nhiệt điện than chậm đưa vào sử dụng từ 1-2 năm như hiện nay, cũng như việc nhập than được dự báo là khó khăn và tốn kém, liệu kế hoạch phát triển nhiệt điện than đầy tham vọng này có thành hiện thực?

Kế hoạch phát triển lãng mạn?

Ông Nguyễn Chân, nguyên Bộ trưởng Bộ Điện - Than nhận xét: không có lý do gì GDP tăng 7-8% mà điện lại yêu cầu tăng 15-17%. Nguyên nhân do chúng ta phát triển cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu công nghiệp không có hiệu quả kinh tế. “Xi măng làm gì mà phát triển ghê gớm thế. Quy hoạch và quản lý quy hoạch thế nào mà cứ để cho các địa phương cấp phép ồ ạt. Sắt thép cũng vậy, cứ thả cho các địa phương cấp phép lên tới 60 triệu tấn. Đất nước này cần gì đến 60 triệu tấn thép?” - ông Nguyễn Chân đặt vấn đề.

Nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng

Với cơ cấu công nghiệp như vậy, nhu cầu sử dụng điện cứ thế được đẩy lên cao. Khi nguồn thủy điện phát triển gần tới hạn, các nhà quản lý đã chuyển định hướng sang phát triển nhiệt điện than. Theo chiến lược và quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2005-2015 có xét đến năm 2025 (gọi tắt là Sơ đồ điện 6), thì từ 2005-2010 phải có 4.600MW nhiệt điện than; từ 2010 - 2015 là 26.000MW và từ 2015-2025 là 93.000MW. Thế nhưng, thực tế lại hoàn toàn khác. Theo kết quả kiểm tra Sơ đồ điện 6 hồi tháng 3/2010, ngành điện chậm đưa vào sử dụng 2.100MW nhiệt điện từ 1 - 2 năm. Tiến độ chậm này có nhiều nguyên nhân như: khó giải ngân, giải phóng mặt bằng chậm, không đủ lực lượng thi công, cung cấp thiết bị, phụ tùng chậm… “Mỗi nhà máy nhiệt điện than sử dụng một loại than nhất định. Than antraxit của Việt Nam có đặc điểm độ bốc thấp nên rất khó xử lý, xây lò phải có thời gian điều chỉnh, để ổn định phải mất 6 tháng đến 1 năm là chuyện bình thường” - Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Hữu Hào lý giải.

Theo đánh giá của các chuyên gia cũng như lãnh đạo Bộ Công thương, việc phát triển nhiều nhà máy nhiệt điện than trong thời điểm hiện nay là đúng hướng vì vốn đầu tư vừa phải, ở trong nước lại có sẵn nguồn than. Thế nhưng, việc đưa kế hoạch phát triển nhiệt điện than lên quá cao đã sớm gây ra một tâm lý thiếu than nhiều.

“5 năm qua chúng ta mới sản xuất được 2.500MW thì 5 năm tới khó có thể sản xuất được 26.000MW nhiệt điện than. Kế hoạch phát triển này quá lãng mạn, nếu làm phép cộng trong 15 năm (từ 2006-2025), dự kiến phát triển 123.000MW nhiệt điện, đòi hỏi phải nhập 300 triệu tấn than. Ngay Đức, Nhật hiện nay mới dùng tới con số đó thì liệu Việt Nam có thực hiện được?” - một giáo sư đầu ngành về quy hoạch năng lượng tỏ ra băn khoăn như vậy.

Nhập than giá đắt mà vẫn khó!

Theo kế hoạch phát triển nhiệt điện than, các cơ quan quản lý đã từng dự kiến thời điểm nhập khẩu than sẽ bắt đầu từ năm 2013. Song, do một loạt các nhà máy nhiệt điện chậm tiến độ xây dựng nên thời điểm nhập khẩu than bị đẩy lùi tới năm 2015 và có thể sẽ muộn hơn. Dù vậy, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) vẫn tỏ ra lo lắng về việc nhập khẩu than trong tương lai.

Tại Nhật Bản, cứ mỗi 1KWh làm ra hơn 3USD thu nhập quốc dân; còn tại Anh, Indonesia dù kém hơn cũng là 2USD, Philippines kém hơn nữa là 1,7USD; Với Việt Nam, 1kWh làm ra được khoảng 1USD. (Ông Nguyễn Chân, nguyên Bộ trưởng Bộ Điện - Than)

Để chuẩn bị cho việc nhập khẩu than, TKV đã thành lập Ban chỉ đạo nhập khẩu than, chủ động cử các đoàn đi khảo sát ở Indonesia, Australia để tìm các nguồn than nhập khẩu cho các dự án nhiệt điện. Đến nay, TKV đã ký hợp đồng khung với 2 công ty tại Indonesia (PT Berau Indonesia và Maintime Hongkong) mua than với sản lượng 3,5 triệu tấn/năm, nhưng đối tác mới đồng ý ký thời hạn khoảng 5 năm. “Việc nhập khẩu than sẽ càng khó hơn do nhu cầu sử dụng và giá cả tăng cao, các nhà cung cấp từ chối cung cấp than dài hạn, các điều khoản đàm phán ngày càng khó khăn và bất lợi cho người mua” - TKV khẳng định.

Cũng theo TKV, hiện nay, ngoài dự án Duyên Hải III (do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư), chưa có chủ đầu tư nào có văn bản đề nghị ký hợp đồng kinh tế cung cấp than để TKV có kế hoạch đàm phán nhập khẩu. Vậy mà, cách đây hơn 1 tháng, khi thẩm tra nhiệt điện Long Phú (Long An), Quảng Trạch 1 (Quảng Bình) do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư, một thành viên trong đoàn thẩm định đã ngớ người khi kế hoạch nhập khẩu than đều ghi sử dụng than nhập từ Australia, Indonesia, nhưng lại phải đàm phán mua than thông qua đối tác Nhật Bản!? Giá nhập khẩu than đưa ra trong phương án tài chính của dự án ở Long Phú là 100USD/tấn, còn Quảng Trạch là 71USD/tấn trong khi giá xuất khẩu hiện nay của TKV chỉ vào khoảng 40-50USD/tấn. Với giá than nhập khẩu cao như vậy, giá điện dự báo sẽ ở mức cao, ai sẽ gánh chịu?./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.