Năm 2011, cỗ xe kinh tế khựng lại và chuyển hướng
Cùng nhiều giải pháp, Nghị quyết 11 đã giúp “phanh” cỗ xe kinh tế Việt Nam “đổ dốc”, bước đầu vượt qua được đình đốn và lạm phát cao.
Nếu xem kinh tế Việt Nam như một cỗ xe thì năm 2011 nó phải vượt nhiều chướng ngại vật, trong khi bản thân nó nhiều “ốc vít” không được siết kịp thời, thậm chí đôi lúc nhiều bộ phận của cỗ xe bị hỏng. Một cuộc đại tu xe đã diễn ra bằng việc khởi động các chương trình tái cơ cấu cả nền kinh tế, đạt những thành quả quan trọng bước đầu.
Khó khăn và hệ lụy kinh tế 2010 đổ sang 2011
Ví nền kinh tế Việt Nam như một cỗ xe đang phóng rất nhanh để đến đích, bởi lẽ, năm 2008, để vượt qua khủng hoảng, giống như nhiều nước trong khu vực và thế giới, nước ta triển khai một chương trình kích cầu lớn chưa từng có với hàng loạt biện pháp hỗ trợ, “bơm” tiền vào nền kinh tế.
![]() |
|
Lạm phát tăng cao, người dân có thu nhập thấp và trung bình (nông dân, công nhân, viên chức) chịu ảnh hưởng nặng nề nhất vì tăng chi tiêu cho lương thực, thực phẩm,... |
Một mặt biện pháp này đã đem lại hiệu quả tức thời, giúp cộng đồng doanh nghiệp, nền kinh tế vượt qua được khó khăn, suy thoái tạm thời, nhưng mặt khác nó cũng làm mất cân đối tiền - hàng khiến lạm phát bộc phát ngay từ tháng 10/2009 và nhanh chóng bùng lên những tháng đầu của năm 2011.
Tất nhiên, lạm phát cao do rất nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản vẫn là do chúng ta bơm một lượng tiền quá lớn, cộng với việc theo đuổi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng với nhiều nút thắt như hiệu quả đầu tư thấp, thâm hụt thương mại cao… đã góp phần làm lạm phát tăng cao ngay từ tháng 9/2010 và kéo dài cả năm 2011.
Lạm phát, trong một chừng mực nào đó, cũng bị cộng thêm, thậm chí tạo ra những cú “sốc” cho nền kinh tế, cho cộng đồng doanh nghiệp và cả người dân khi điều chỉnh tỷ giá USD/VND tăng thêm 9,3%, và điều chỉnh gần như cùng một lúc cả giá điện, xăng dầu, than ngay ở thời điểm trước và sau Tết, tháng 2 và tháng 3/2011. Lạm phát trong năm 2011 còn do tác động của thiên tai kéo dài gây những tổn thất lớn về người và tài sản, làm ảnh hưởng đến nguồn cung và tăng giá cả lương thực, thực phẩm.
Một nguyên nhân cơ bản nữa là trong khi nội lực của nền kinh tế còn thấp, những yếu kém tích tụ từ nhiều năm chưa được khắc phục, kinh tế thế giới lại tiếp tục có những diễn biến phức tạp, lạm phát tăng, giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản xuất, giá lương thực, thực phẩm tiếp tục xu hướng tăng cao, cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra ở nhiều nước EU, sự phục hồi mong manh và kinh tế Mỹ… là những yếu tố bên ngoài tác động làm tăng chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam.
Lạm phát tăng cao đã tác động đến tất cả các đối tượng. Bộ phận dân cư có thu nhập thấp và trung bình (nông dân, công nhân, viên chức) chịu ảnh hưởng nặng nề nhất vì chi tiêu cho lương thực, thực phẩm, học hành của con cái chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thu nhập của họ. Với các doanh nghiệp, chi phí đầu vào tăng cao cùng với tỷ giá hối đoái biến động mạnh, lãi suất ngân hàng tăng cao đã gây khó khăn lớn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Trong điều kiện biến động này, các doanh nghiệp ngày càng khó khăn hơn trong việc bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh. Đồng thời, việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư cũng gặp nhiều khó khăn do mọi dự toán chi phí đều có thể trở thành lạc hậu trước những diễn biến không thể dự báo của thị trường, giá cả trong nước và thế giới.
Nghị quyết 11, bước khởi đầu của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế
Các chuyên gia quốc tế khi đến Việt Nam đầu năm 2011 đều nhận định: Kinh tế Việt Nam đang ở thời kỳ cực kỳ khó khăn. Họ cũng đánh giá Nghị quyết 11 của Chính phủ là giải pháp “không thể tốt hơn” ở thời điểm đó. Đó là việc thực hiện một số biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, trọng tâm là cắt giảm đầu tư công hồi tháng /2/2011.
Đến nay, Nghị quyết 11 được đánh giá là biện pháp quan trọng giúp nền kinh tế Việt Nam “cân bằng trở lại” và đã có những thống nhất trên cả bình diện lý thuyết và thực tế là phải để nền kinh tế một lần “đau” để lấy lại “cân bằng”. Dòng vốn đầu tư của nhà nước được phanh lại kịp thời, đúng lúc và chảy vào những nơi hiệu quả nhất.
Trong một động thái khác, chính các ngân hàng cũng được Chính phủ chỉ đạo phải phanh lại tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất (chủ yếu là bất động sản và chứng khoán), để tập trung ưu tiên vốn cho hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu và vốn cho khu vực phát triển nông nghiệp nông thôn.
![]() |
|
Năm 2011, "phanh" tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với lĩnh vực phi sản xuất |
Phanh tín dụng phi sản xuất, lập tức những yếu tố “đầu cơ” trong nền kinh tế bắt đầu bộc lộ trên nhiều phương diện, từ đó giúp Chính phủ nhận diện và sớm có giải pháp tái cơ cấu trên nhiều lĩnh vực. Có thể thấy ngay một loạt những yếu tố “ảo” bỗng trở về giá trị thực. Bất động sản giảm giá mạnh. Thị trường chứng khoán tụt dốc. Giá vàng “nhảy múa” hỗn loạn. Xuất hiện ngày càng rõ hơn những dấu hiệu rủi ro trong hoạt động của hệ thống ngân hàng, hệ thống vốn được xem là mạch máu của cả nền kinh tế.
Trước hết, đó là rủi ro tín dụng và nợ xấu gia tăng trong hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu và rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại có xu hướng gia tăng trong bối cạnh thị trường chứng khoán, bất động sản tụt dốc và sự đổ vỡ của nhiều chủ nợ tín dụng “đen”… Trong bối cảnh “khắc nghiệt” như thế, cũng không quá ngạc nhiên cho thấy, một cuộc sàng lọc toàn diện ở tất cả các doanh nghiệp, ngành nghề, lĩnh vực đã diễn ra. Hậu quả là có đến gần 50.000 doanh nghiệp phải phá sản.
Năm 2012, còn khó khăn nhưng đặc biệt
Năm 2012, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 6-7%, ưu tiên quan trọng nhất vẫn là kiềm chế lạm phát ở mức 1 con số.
Cho đến thời điểm này, có thể xem lạm phát đã lùi dần, song thách thức là nó sẵn sàng quay lại ngay những tháng đầu năm mới, trong khi dự báo về tình hình giá cả thế giới chưa có gì đảm bảo sẽ không tăng ngay từ đầu năm 2012. Cạnh đó có áp lực của sự phá giá đồng tiền, giá điện phải tăng theo lộ trình và giá xăng dầu có thể tăng theo cơ chế thị trường… khiến cho lạm phát vẫn ở mức cao.
Cái khó là làm sao “hài hòa” được mục tiêu tăng trưởng 6% của năm 2012 mà vẫn đảm bảo giữ lạm phát ở mức thấp quanh mức 10%. Đây sẽ là điểm thách thức không nhỏ khi mà “cơ cấu” bên trong của nền kinh tế nước nhà đã và đang đứng trước yêu cầu phải tái cấu trúc. Theo một vài chuyên gia kinh tế hàng đầu ở Việt Nam, bài toán đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam 2012 là cần có kế hoạch ổn định kinh tế vĩ mô gắn liền với tái cấu trúc và cải cách toàn diện trong ít nhất 2 năm 2012- 2013, trước khi tiếp tục thực hiện mục tiêu của kế hoạch 5 năm tới.
Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, PGS, TS Trần Đình Thiên cho rằng, năm 2012 là năm đặc biệt. Đặc biệt theo nghĩa đây là năm nền kinh tế lâm vào tình thế khó khăn nghiêm trọng, cũng là năm nền kinh tế phải tạo bước ngoặt để xoay chuyển tình hình - ổn định vững chắc tình hình không để lạm phát quay lại, để khôi phục lòng tin, hạ thấp mức lạm phát đến mức giúp các doanh nghiệp không lún sâu hơn vào tình thế khó khăn trong sản xuất và kinh doanh. Năm 2012 phải bắt tay ngay vào hành động tái cơ cấu thực sự 3 lĩnh vực ưu tiên mà Hội nghị Trung ương 3 đã khẳng định: Đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại, khu vực doanh nghiệp nhà nước./.

