Nghịch lý ngân hàng lãi lớn, doanh nghiệp chết yểu
Có ý kiến cho rằng những lợi nhuận khổng lồ của hàng loạt ngân hàng thời gian qua có phải là cách “ngân hàng đang đồng hành cùng Chính phủ chống lạm phát”?
Trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn, hàng chục nghìn doanh nghiệp đứng trước bờ vực phá sản, thông tin về việc hàng loạt ngân hàng thương mại báo cáo lãi lớn trong 6 tháng đầu năm không khỏi làm người ta giật mình. Giật mình bởi lẽ, vốn từ ngân hàng cũng là một mặt hàng đầu vào đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp. Giá đầu vào càng cao (tức vốn vay lãi suất cao để ngân hàng hưởng lợi) thì doanh nghiệp sẽ càng thêm khó khăn. Kết quả lợi nhuận của ngân hàng cũng cho thấy đang có những nghịch lý trong chống lạm phát hiện nay.
Hàng loạt ngân hàng lãi lớn
Thông báo của một loạt ngân hàng thương mại cổ phần về kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm đã hé lộ những mức lợi nhuận đáng chú ý. Cụ thể, lợi nhuận trước thuế quý 2 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) là hơn 1.250 tỷ đồng; lũy kế 6 tháng đầu năm đạt tới hơn 3.000 tỷ đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank), tổng lợi nhuận trước thuế lũy kế từ đầu năm tới nay đạt hơn 3.600 tỷ đồng, tăng tới 68% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cũng vừa công bố báo cáo kết quả kinh doanh của riêng ngân hàng trong quý 2/2011. Theo đó, tổng lợi nhuận trước thuế trong quý 2/2011 là 840 tỷ đồng; lũy kế 6 tháng đầu năm đạt 1.690 tỷ đồng, tăng tới 85% so với cùng kỳ năm ngoái…
Những lợi nhuận của ngân hàng cho thấy, dường như những khó khăn vĩ mô và chính sách chỉ tác động lên các doanh nghiệp đi vay vốn để kinh doanh sản xuất, chứ không tác động đến các ngân hàng thương mại?!
![]() |
|
Lạm phát làm lợi nhuận danh nghĩa của các ngân hàng gia tăng (ảnh: Internet) |
Lãi suất cũng là một loại giá cả cần được kiểm soát chặt chẽ
Trước những lợi nhuận khổng lồ này của hàng loạt ngân hàng, ông Nguyễn Văn Phụng, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính) phải thốt lên rằng, “ngân hàng có đồng hành cùng Chính phủ chống lạm phát hay không?”. Theo ông Phụng, trong khi hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều lỗ, phải thu hẹp sản xuất, thậm chí phải phá sản, thì các ngân hàng công bố lợi nhuận với tăng trưởng hơn 50% so với cùng kỳ năm ngoái là điều khó có thể chấp nhận. Bởi các dịch vụ, nhất là dịch vụ tín dụng của ngân hàng thực chất là một đầu vào quan trọng của các doanh nghiệp. Khi đầu vào giá cao (là vốn với lãi suất quá cao), cộng với những khó khăn của nền kinh tế càng khiến doanh nghiệp càng khó khăn, thu hẹp sản xuất, lao động mất việc làm, nền kinh tế càng đình trệ.
Đi sâu vào phân tích, ông Phụng cho rằng có quá nhiều bất cập trong việc ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp hiện nay. Trước tiên là lãi suất cho vay quá cao, lên tới 22-25%/năm. Lẽ ra trong bối cảnh khó khăn này, ngân hàng cùng chia sẻ với doanh nghiệp, hưởng lợi nhuận hợp lý thì ngược lại, ngân hàng càng tận thu hơn khi đẩy lãi suất cho vay lên quá cao. Không những vậy, các ngân hàng còn tính nhiều loại phí áp dụng cho doanh nghiệp. Mà những khoản phí, lệ phí này thực chất cũng chính là lãi suất, làm tăng thêm gánh nặng cho doanh nghiệp.
“Biểu phí ngân hàng hiện có quá nhiều loại phí. Ví dụ phí quản lý dư nợ vay: tức là khách hàng có dư nợ vay bao nhiêu ngân hàng tính % trên dư nợ vay đó, thực chất chính là lãi suất cho vay trá hình. Bởi lãi suất cho vay cũng tính trên dư nợ vay. Vậy thì phí quản lý khoản vay cũng được tính trên dư nợ vay. Đây là một điều hết sức phi lý. Lãi suất cũng là 1 loại mặt hàng, 1 giá cả thuộc phạm vi điều hành giá. Tiền tệ là loại hàng hóa đặc biệt, khoản tín dụng cũng nằm trong chương trình của Nhà nước. Như vậy chúng ta đang thả nổi các hoạt động này của ngân hàng” - ông Phong phân tích.
Cùng chung quan điểm này, Tiến sỹ Nguyễn Minh Phong, chuyên gia kinh tế của Viện Nghiên cứu kinh tế - xã hội Hà Nội, cho rằng, cơ quan chức năng vừa qua dường như bất lực trước lãi suất cho vay quá cao của ngân hàng. Nguyên nhân là chúng ta đang làm ngược. Lẽ ra phải lập trần lãi suất cho vay, thả lãi suất tiền gửi thì lại làm ngược lại, thả lãi suất cho vay, lập trần lãi suất huy động khiến lãi suất cho vay nhảy múa, nền kinh tế và doanh nghiệp chịu thiệt thòi. Không những vậy, việc này đang phát sinh một loạt hệ quả xấu khó lường.
Một là ai cũng biết nguyên tắc lãi suất thực dương, trong khi chúng ta lại định ra lãi suất âm (14%/năm). Cho nên dù muốn hay không ngân hàng buộc phải lách luật, lách trần lãi suất, từ đó dẫn tới sự không minh bạch, gây thiệt hại cho cả doanh nghiệp và cả người gửi tiền. Thiệt hại thứ 2 nguy hiểm hơn, đó là tạo ra cơ chế mà khi các ngân hàng buộc phải huy động cao thì phải cho vay cao. Khi không khống chế trần lãi suất cho vay dù muốn hay không, vì lợi ích của mình, các ngân hàng sẽ tìm kiếm những khách hàng nhận lãi suất vay cao nhất để cho vay (khách hàng đó thường là đầu cơ, lướt sóng vào bất động sản, vàng, đô la).
Vì vậy muốn hay không, Ngân hàng Nhà nước có khống chế dưới 20% tổng dư nợ tín dụng cho khu vực phi sản xuất vẫn khó đạt được. Hệ quả xấu thứ 3 là các doanh nghiệp ít được tiếp cận các nguồn vốn, do nguồn vốn này dồn vào cho vay ở các lĩnh vực chấp nhận lãi suất cao, doanh nghiệp sản xuất khác không thể với được. Từ đó nảy sinh tình trạng vốn không được đưa vào đúng khu vực sản xuất, càng làm cho sản xuất đình trệ, nguồn cung khan hiếm. Một hệ quả nữa là ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ro cao khi cho vay vào lĩnh vực đầu cơ, lướt sóng, phi sản xuất. Từ đó cả nền kinh tế tích lũy những nguy cơ bùng nổ trong tương lai.
Từ thực tế này, ông Phong kiến nghị cần làm ngược lại, khống chế lãi suất trần cho vay và nâng dần trần lãi suất huy động, sau đó có thể bỏ dần trần lãi suất huy động trước, sau đó bỏ trần lãi suất cho vay.
Các chuyên gia cũng khuyến nghị, cần học tập kinh nghiệm của một số nước, trong đó có Trung Quốc, xử lý lạm phát khá hiệu quả, họ không sử dụng lãi suất mà công cụ chủ yếu là dự trữ bắt buộc. Trung Quốc đã 8 lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và chỉ có 5 lần điều chỉnh lãi suất nhưng cũng với thời gian rất ngắn. Việc điều chỉnh bằng dự trữ bắt buộc sẽ đánh trực tiếp vào ngân hàng thay vì lãi suất là đánh vào doanh nghiệp như hiện nay.
Hay như ở Mỹ, tháng 10/2010, họ đưa ra luật mua bảo hiểm với mức phí cao đối với các khoản vốn huy động, còn chúng ta sai lầm khi dùng mệnh lệnh hành chính khống chế hết mức huy động, dùng lãi suất để khống chế. Trong khi quan trọng nhất phải đánh trực tiếp vào ngân hàng. Ngân hàng huy động càng lớn thì đóng bảo hiểm càng nhiều, như vậy ngân hàng buộc phải tăng chất lượng dịch vụ để phát triển chứ không phải tăng huy động và cho vay để tăng trưởng theo chiều rộng như hiện nay. Nếu chỉ dùng công cụ lãi suất sẽ có nhiều nguy hiểm: lãi suất càng cao dòng vốn nước ngoài vào càng lớn sẽ rất nguy hiểm. Thứ 2, doanh nghiệp buộc phải vay với lãi suất cao. Thứ 3, nó tạo ra chi phí cao, từ đó càng làm cho lạm phát trầm trọng.
Từ những kinh nghiệm của các nước cho thấy, cần sử dụng linh hoạt, tổng hợp các chính sách: dự trữ bắt buộc, lãi suất chứ không chỉ dùng chính sách lãi suất đơn phương độc mã như hiện nay./.
