Rừng vàng, lòng bạc
Cứ mỗi khi Vườn Quốc gia nào được thế giới công nhận là khu dự trữ sinh quyển của nhân loại, khu vực đó lập tức lọt vào tầm ngắm của của các nhà đầu tư thủy điện
“Rừng là vàng!” – Câu khẩu hiệu, hay lời răn này xuất hiện ở bất cứ cánh rừng nào vì rừng đúng là vàng, thậm chí quý hơn vàng. Để có được một khu rừng được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, tạo hóa phát mất hàng ngàn năm mới hình thành. Nhưng, cũng bởi “rừng là vàng” nên người ta sẵn sàng bất chấp tất cả để cưỡng đoạt, sở hữu những cánh rừng.
Lâm tặc phá rừng để lấy gỗ, người dân du mục phá rừng để lấy đất, nhưng sức tàn phá đó không thấm vào đâu so với các tập đoàn kinh tế phá rừng làm thủy điện. Chỉ trong vòng 5 năm qua, hàng chục công trình thủy điện đã mọc lên trên những khu dự trữ sinh quyển và nuốt chửng hàng ngàn ha rừng. Trong số 143 vườn Quốc gia trên cả nước thì có tới 45 khu vườn có dự án thủy điện.
Một điều khá trớ trêu trong mối quan hệ Vườn Quốc gia và thủy điện là cứ mỗi khi Vườn Quốc gia nào được thế giới công nhận là khu dự trữ sinh quyển của nhân loại, khu vực đó sẽ lọt vào tầm ngắm của của các nhà đầu tư thủy điện. Vườn Quốc gia Ba Bể được công nhận một tháng trước và đã là nạn nhân của thủy điện, Vườn quốc gia Cát Tiên giờ đây có thể được coi là công viên thủy điện với hàng loạt dự án khác nhau.
Cơn khát năng lượng của một quốc gia đang trong cơn say công nghiệp hóa có thể khiến người ta không kịp nghĩ ngợi nhiều đến những lợi ích mang tính bền vững. Song, cái cách mà các chủ đầu tư dự án thủy điện ứng xử với rừng thật khó mà chấp nhận. Cái cách mà ông Trần Bá Hiệp, giám đốc các dự án thủy điện của tập đoàn Đức Long Gia Lai trả lời báo Tuổi trẻ xung quanh việc nuốt 137 ha rừng Cát Tiên có thể sẽ được bình chọn là phát ngôn phản cảm nhất trong năm.
Thật là khó hình dung về nhận thức của vị giám đốc này khi cho rằng việc mất đi 137 ha rừng là điều không đáng kể, và không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của một khu dự trự sinh quyển. Một tay lâm tặc dành cả đời phá rừng cũng không bức hại nổi diện tích như vậy, và nếu ra đứng trước vành móng ngựa, gã lâm tặc ấy liệu có thể mở miệng nói rằng hành vi phá rừng của gã không ảnh hưởng?
Tàn phá thiên nhiên và trả giá! Đó không phải là câu chuyện mới mẻ. Những cơn hồng thủy tàn phá miền Trung thời gian qua khi phong trào thủy điện bùng phát đã là lời đáp trả trực diện của thiên nhiên. Những thiệt hại về người và của từ những trận lũ lụt mà chúng ta phải gánh chịu hàng năm là cái giá mà các dự án thủy điện không thể bù đắp. Vì thế cho nên các dự án thủy điện đều phải có đánh giá tác động môi trường. Song, điều đó là vô nghĩa khi mà các ông chủ dự án không hề quan tâm đến điều gì khác ngoài mục đích của bản thân.
Để đánh giá tác động môi trường của một dự án lấy đi 137 ha rừng mà người ta chỉ cần đến 3 con người, khảo sát trong một tuần, mà 3 ngày lạc lối thì kết quả của bản báo cáo đánh giá ấy có lẽ không hơn gì câu chuyện kể về một chuyến picnic. Nhưng, điều đó cũng chẳng quan trọng, vì kết quả có ra sao thì cũng không ngăn được ý muốn biến nguồn sống của nhân loại làm của riêng của các ông chủ dự án. Bởi, “chúng tôi không biết, vì chúng tôi đâu có chuyên môn.” – Lấy cái sự dốt nát để bao biện cho sự vô cảm, phải chăng đó là cách thức thuận tiện, và đê tiện nhất mà người ta có thể sử dụng?
Những lãnh đạo của tập đoàn Đức Long Gia Lai, chủ đầu tư các dự án thủy điện ăn rừng Cát Tiên có thể không đủ chuyên môn để biết về tác động môi trường khi phá rừng. Song, là một tập đoàn kinh tế phất lên nhờ nghề chế biến gỗ, họ có thừa kinh nghiệm, và chuyên môn để biết rằng 137 ha rừng là cả một đống vàng. Phải chăng, đó cũng chính là nguyên nhân khiến cho những khu rừng nguyên sinh trở nên hấp dẫn đối với các dự án thủy điện?