“Sống lại” nếp cái hoa vàng
Với 36 thành viên được thành lập tại xã Yên Phụ năm 2006, đến nay Hiệp hội sản xuất và thương mại NCHV Kinh Môn đã có 363 hội viên tham gia
Trong danh mục giống lúa truyền thống đang sử dụng của Bộ NN&PTNT có giống lúa nếp cái hoa vàng. Giống lúa nếp cổ truyền này có nhiều đặc tính quý: dẻo, thơm, ngậy và ngon. Nhưng qua nhiều năm, do thay đổi cơ cấu giống lúa theo hướng tăng năng suất, nên giống lúa này đã không được bảo tồn, diện tích còn rất ít.
![]() |
|
Việc khôi phục giống nếp cái hoa vàng Kinh Môn đạt hiệu quả cao (Ảnh: Internet) |
Nhằm bảo tồn và phát triển sản xuất nếp cái hoa vàng (NCHV), năm 2006, Trung tâm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp (CASRAD) của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam kết hợp với huyện Kinh Môn (Hải Dương) tư vấn và hỗ trợ nông dân tổ chức lại sản xuất và thương mại NCHV một cách hiệu quả hơn.
TS. Đào Thế Anh, Giám đốc CASRAD cho biết mục đích của dự án: “Trước tiên phải tuyển chọn và phục tráng lại giống, nâng cao phẩm cấp hạt giống, nhằm phục hồi chất lượng NCHV truyền thống. Là giống lúa dài ngày, năng suất thấp, bị nhiều sâu bệnh gây hại, cho nên cần quan tâm đặc biệt tập huấn về kỹ thuật canh tác. Muốn NCHV được người tiêu dùng trả giá cao, nhất thiết phải làm ra sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, không được trộn gạo nếp khác”.
Kinh Môn là huyện miền núi của tỉnh Hải Dương, có hơn một nửa diện tích tự nhiên là đất nông nghiệp, đồi núi xen kẽ đồng bằng, được 4 con sông lớn bao bọc: Kinh Thày, Kinh Môn, Hàn Mấu và Đá Vách bồi đắp lượng phù sa quý, chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa, điều kiện khí hậu khá thuận lợi. Nhưng do sản xuất manh mún, không tập trung, không có qui trình kỹ thuật chung, nên cây lúa dễ bị sâu bệnh. Thêm nữa, khó khăn về quản lý và tiêu thụ đã khiến thu nhập của người sản xuất bị giảm sút, nên diện tích NCHV từ 500ha giảm xuống còn 250ha.
Để vực lại diện tích sản xuất NCHV, năm 2006, nhóm nông dân đầu tiên với 36 thành viên được thành lập tại xã Yên Phụ, với 2,3ha; năm 2007 có thêm 2 nhóm cũng ở Yên Phụ, thành 131 thành viên, với 10ha. Song, vì tổ chức nhóm không có tư cách pháp nhân, khó tham gia thị trường, nên năm 2008, các nhóm nông dân đã nhất trí liên kết thành Hiệp hội sản xuất và thương mại NCHV Kinh Môn, được UBND tỉnh Hải Dương công nhận. Cũng trong năm này, Cơ quan Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đã tài trợ dự án “Liên kết để đa dạng nguồn thu nhập từ cây trồng ít được khai thác” (CoDI), với 2 sản phẩm NCHV Kinh Môn và rau bò khai Chợ Đồn (Bắc Cạn).
Ông Ngô Quang Sáng, Chủ tịch Hiệp hội sản xuất và thương mại NCHV Kinh Môn cho biết, ngoài việc chủ động sản xuất, cung ứng đủ giống, tập huấn về quy trình kỹ thuật…, Hiệp hội còn có hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm từ khâu sản xuất đến các khâu chế biến, đóng gói sản phẩm. Trước khi đến tay người tiêu dùng, Hiệp hội gửi mẫu gạo đi phân tích tại Trung tâm y tế dự phòng tỉnh, chỉ khi nào kết quả phân tích xác nhận mẫu gạo đáp ứng các quy định của Bộ Y tế về chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, sản phẩm mới được đóng gói đưa ra thị trường. Đổi lại, giá thu mua lúa của Hiệp hội bao giờ cũng cao hơn giá thị trường khoảng 500 đồng/kg.
Để giúp tìm đầu ra cho sản phẩm, CASRAD đã giúp Hiệp hội có được mạng lưới tiêu thụ tại Hà Nội với 10 đại lý, 2 công ty, 2 siêu thị phân phối sản phẩm; tại TP HCM có 1 công ty; 1 công ty rượu chuyên mua thóc của Hiệp hội.
Đánh giá cao dự án CoDI, đặc biệt là sự giúp đỡ khoa học và rất hiệu quả của CASRAD, ông Nguyễn Ngọc Ngung, Phó Chủ tịch UBND huyện Kinh Môn hồ hởi nói: “Hiện nay, Hiệp hội bao gồm thành viên của 5 xã với 363 hội viên. Kết thúc dự án (năm 2011), tỷ lệ thu nhập từ NCHV trên tổng thu nhập của hộ nông dân là 17% so với 2,63% thời gian trước dự án (2007)... Cuối năm 2011, sản phẩm NCHV Kinh Môn sẽ được bảo hộ nhãn hiệu tập thể”.
Thông qua dự án, nông dân và các cơ quan, chính quyền các cấp cũng nâng cao thêm nhận thức và trách nhiệm về tiềm năng, thế mạnh của địa phương mình, từ đó tìm mọi cách phát huy, phát triển, nhằm xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện giúp nông dân từng bước vươn lên làm giàu, xây dựng nông thôn mới.
Tuy nhiên, Hiệp hội đang đứng trước không ít khó khăn mà tự mình không thể giải quyết được. Ngoài việc năng lực quản lý còn hạn chế, Hiệp hội đang thiếu vốn sản xuất và kinh doanh. Hằng năm phải vay ngân hàng 200 triệu đồng với lãi suất cao. Điều này làm tăng chi phí sản xuất, tăng giá thành sản phẩm. Cơ sở chế biến của Hiệp hội còn thiếu và không đồng bộ, trên thị trường có nhiều cửa hàng bày bán gạo NCHV giả… cũng là những thách thức không nhỏ của Hiệp hội./.
