Tăng tính minh bạch, đơn giản trong tiếp cận ODA
Tăng cường cơ chế quản lý, chịu trách nhiệm và chú trọng đến vai trò của khu vực tư nhân… là định hướng sử dụng ODA giai đoạn tới.
Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức sau một thời gian đi vào hoạt động đã bộc lộ một số điểm bất cập. Để nguồn vốn này phát huy hiệu quả tốt hơn, sáng 28/10, Bộ Kế hoạch – Đầu tư tổ chức lấy ý kiến các bộ, ngành và các nhà tài trợ quốc tế về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 131.
![]() |
| Tốc độ giải ngân vốn ODA còn chậm (ảnh V.H) |
Nghị định thay thế Nghị định 131 tập trung vào các nội dung: Mở rộng phạm vi các khoản vay và tài trợ; Xác lập đầy đủ khuôn khổ thể chế và quản lý đối với các mô hình viện trợ như tiếp cận theo ngành, theo chương trình, hỗ trợ ngân sách chung, hỗ trợ ngân sách có mục tiêu; Cải tiến quy trình xây dựng, tổng hợp và phê duyệt Danh mục yêu cầu tài trợ đảm bảo tính khả thi cao và tránh tình trạng phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt lại do có những thay đổi trong quá trình xây dựng, thẩm định và phê duyệt dự án; Chú trọng đến vai trò của khu vực tư nhân; Tinh giản quy trình, thủ tục đối với những chương trình, dự án ODA có thay đổi dẫn đến thay đổi các Điều ước quốc tế cụ thể về ODA đã ký kết…
Thủ tục và phân cấp quản lý
Nhận xét về dự thảo sửa đổi Nghị định 31, đại diện Ban điều hành viện trợ cho rằng vẫn còn khá phức tạp. Ban soạn thảo cần làm thế nào đơn giản hóa các qui trình, thủ tục quản lý, tiếp cận ODA. Bên cạnh đó, cần làm thế nào để tăng cường năng lực của Bộ chủ quản và địa phương đối với các nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi. Các nhà tài trợ quốc tế cũng đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm giải trình của cả chính phủ và các đối tác phát triển bằng các cơ chế báo cáo và chia sẻ thông tin.
Dự thảo cũng cần nói cụ thể hơn mức độ đảm bảo nguồn tài chính sẽ được xử lý thế nào và làm thế nào để đảm bảo nguồn tài chính trong danh mục tài trợ.
Vị đại diện này cũng cho rằng, cần lồng ghép nguồn vốn ODA với vốn ngân sách. Không có cơ chế song trùng giữa hai nguồn vốn này mà là lồng ghép với nhau nhưng cần qui định cụ thể các điều kiện, nguyên tắc.
Đại diện cho nhóm 6 ngân hàng (Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW), Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (Korea Eximbank), bà Saiko cho rằng, cần đơn giản hóa đề cương chi tiết của dự án. Đề cương chi tiết là giai đoạn đầu để CP thấy chương trình đó có phù hợp không, rồi mới thành lập Ban quản lý dự án (PMU). Giai đoạn viết đề cương dự án rất khó đưa ra chi tiết cụ thể. Đề cương chỉ cần tối đa 5 trang để chủ đầu tư không phải mất quá nhiều thời gian khi chưa biết chắc chắn sẽ làm gì và công nghệ nào là phù hợp. Thực tế quá trình thực hiện còn rất nhiều điểm phải sửa đổi.
Làm rõ hơn việc cần thiết phải sửa đổi nội dung này, bà Lan Hương (Vụ Kinh tế đối ngoại – Bộ Tài chính) cho rằng, ở giai đoạn lập đề cương chi tiết thì chưa có điều kiện thẩm định khoản vay tài chính của dự án. Đến giai đoạn vào làm chi tiết mới thẩm định được năng lực tài chính. Thực tế, không kiểm tra thẩm định tài chính trước khi quyết định cho vay (đối với dự án cho vay lại) nên xảy ra tình trạng dự án đã đàm phán vay nợ xong rồi nhưng khi trở về thì dự án đó lại không đảm bảo điều kiện vay nợ.
Theo bà Saiko, dự thảo cũng cần xác định rõ cơ quan có trách nhiệm phê chuẩn đối với việc sửa đổi liên quan dự án, chương trình. Dự án có tốt đến đâu cũng không thể tránh được việc sửa đổi, có thể do biến động giá cả, kinh tế thế giới, biến động về công nghệ… Dự thảo cũng đã đề cập nội dung này nhưng chưa cụ thể và chưa phân cấp rõ ràng (Bộ chủ quản hay Thủ tướng sẽ có quyền điều chỉnh). Việc không rõ ràng trong qui định này sẽ sẽ ảnh hưởng tới tính liên tục, tốc độ giải ngân của dự án. “Nếu đó là thay đổi lớn ảnh hưởng mục tiêu phát triển thì cần cấp cao hơn quyết định. Còn với những quy định như gia hạn dự án thêm vài tháng… thì do cơ quan chủ quản quyết đinh” – bà Saiko nói.
Bà Lan Hương cho rằng, cần tách bạch nguyên tắc, cách tiếp cận sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi. Hiện nay, chúng ta đang làm theo cùng một qui trình đối với hai nguồn vốn này. Bởi, so với vốn vay ưu đãi thì ODA có chi phí cao hơn nên cần sử dụng nguồn vốn này vào các dự án có khả năng thu hồi vốn nhanh.
Tư nhân tiếp cận ODA
Ông Hoàng Viết Khang – Vụ trưởng Kinh tế đối ngoại cho biết: Thực tế ở Việt Nam, tư nhân đã tiếp cận ODA được khoảng 5 năm nay, nhưng chưa được đề cập chính thức trong các văn bản của Nhà nước. Việc cho phép doanh nghiệp tư nhân tiếp cận các nguồn vốn ODA nhằm thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên của Chính phủ trên nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm, lợi ích và rủi ro với Chính phủ trong việc sử dụng nguồn vốn.
Tại Hội nghị này, đa số ý kiến của các nhà tài trợ cho rằng, Ban soạn thảo cần làm rõ định nghĩa về “tư nhân” trong bản dự thảo. Tư nhân ở đây là ai? Là DN hay cá nhân hay hộ gia đình?
Đại diện của Ban điều hành viện trợ cho rằng: Cần nêu rõ điều kiện, mức độ tham gia của tư nhân vào các nguồn vốn ODA. Khu vực tư nhân cũng cần được hiểu rõ cơ hội tham gia vào ODA của mình. Chính vì vậy, Nghị định thay thế phải đạt tiêu chí đơn giản, dễ hiểu, tránh rườm rà, nếu quá phức tạp các DN tư nhân chắc chắn sẽ không tham gia vay vốn ODA.
Bà Lan Hương cho rằng, thực chất việc tư nhân tiếp xúc với ODA cũng phải dựa trên quan hệ chính thức của nhà tài trợ với Chính phủ Việt Nam. Bản thân các nhà tài trợ không ký kết trực tiếp với tư nhân. Vì thế, ban soạn thảo phải cân nhắc qui trình tiếp cận vốn và nên thông qua các tổ chức tín dụng, định chế tài chính... Các định chế này sẽ thẩm định khả năng trả nợ của các doanh nghiệp tư nhân.
Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 31 sẽ chính thức trình Thủ tướng Chính phủ vào cuối năm nay./.
