Việt Nam - Ấn Độ: Thâm hụt thương mại đang dần thu hẹp
Trao đổi thương mại Việt Nam-Ấn Độ 6 tháng qua cho thấy xu hướng tăng trưởng xuất khẩu tiếp tục cao hơn tăng trưởng nhập khẩu.
Những năm gần đây, Ấn Độ là một trong 10 đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam.
Đặc biệt sau ký Hiệp định Thương mại tự do ASEAN- Ấn Độ ngày 1/1/2010, quan hệ song phương giữa Việt Nam- Ấn Độ ngày càng trở nên bền chặt, tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa vào Ấn Độ.
Thâm hụt thương mại ngày càng thu hẹp
Theo Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ, thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam trong những năm gần đây đã giảm nhiều, năm 2008 thâm hụt: -1.705 triệu USD, năm 2009: - 1.215 triệu USD, năm 2010: -753 USD, tuy nhiên năm 2011 thâm hụt thương mại lại tăng, khoảng – 793 triệu USD.
Trao đổi thương mại Việt Nam-Ấn Độ 6 tháng đầu 2012 cũng cho thấy những tín hiệu đáng mừng khi xu hướng tăng trưởng xuất khẩu tiếp tục cao hơn tăng trưởng nhập khẩu.
|
Năm 2012 là năm quan trọng đánh dấu 40 năm ngày thiết lập quan hệ Việt Nam-Ấn Độ (7/1/1972 – 7/1/2012) và 5 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt - Ấn (6/7/2007 – 6/7/2012). |
Trong số 23 nhóm hàng xuất khẩu được thống kê, có tới 14 mặt hàng có giá trị kim ngạch tăng trưởng trong đó phải kể tới một số nhóm hàng tăng trưởng cao như cao su tăng 3,59 lần (đạt 59,1 triệu USD), hạt điều tăng 98% (đạt 8,3 triệu USD), máy vi tính và sản phẩm điện tử 91% (đạt 65 triệu USD), hóa chất tăng 71% (đạt 24 triệu USD), điện thoại di động tăng 16% (đạt 171 triệu USD).
Xuất khẩu nhóm hàng nông sản trong kỳ hầu hết đều có sự gia tăng về lượng. Giá xuất khẩu bình quân một số mặt hàng nông sản có xu hướng nhích lên so với tháng 5, đặc biệt giá xuất khẩu hạt tiêu bình quân hiện vẫn tiếp tục ở mức cao.
Trong số 14 nhóm hàng có giá trị kim ngạch tăng trưởng thì nhóm nông sản có 4 mặt hàng, 9 mặt hàng còn lại thuộc về các mặt hàng công nghiệp, góp phần tăng tính bền vững của tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu. Điện thoại di động và máy móc thiết bị phụ tùng là 02 mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của ta sang thị trường Ấn Độ trong 6 tháng đầu năm tương ứng với mức kim ngạch là 170,89 triệu USD và 115,84 triệu USD, chiếm tỉ trọng 38% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Về nhập khẩu chỉ có 17/33 nhóm hàng được thống kê có giá trị kim ngạch tăng trưởng. Tuy nhiên, phần lớn các nhóm hàng này đều là những mặt hàng có giá trị nhập khẩu nhỏ. Ngô tiếp tục là mặt hàng nhập khẩu có giá trị kim ngạch cao nhất trong kỳ khi đạt 192 triệu USD, tăng 88%.
Thức ăn gia súc thuộc nhóm hàng nhập khẩu có giá trị nhập khẩu lớn nhất tuy nhiên lại có sự sụt giảm mạnh trong 6 tháng đầu năm nay khi chỉ đạt 172,2 triệu USD (giảm 48% so với cùng kỳ năm trước). Một số nhóm hàng khác có giá trị kim ngạch sụt giảm mạnh là máy móc, thiết bị phụ tùng giảm 40% (đạt 67 triệu USD), bông vải giảm 9% (72,5 triệu USD).
Mục tiêu 7 tỉ USD kim ngạch thương mại song phương
Việt Nam và Ấn Độ đặt mục tiêu đạt kim ngạch thương mại kim ngạch song phương 7 tỉ USD vào năm 2015. Các doanh nghiệp Ấn Độ coi Việt Nam như một trục để vươn tới toàn thể khu vực ASEAN.
Tổng thống Pratibha Patil khi trả lời phỏng vấn báo chí nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang Ấn Độ hồi tháng 10/2011 đã nhấn mạnh: “Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ. Ấn Độ cam kết xây dựng quan hệ chặt chẽ với Việt Nam cả trên bình diện song phương và đa phương”.
Trong khi đó, Ngài Quốc vụ khanh Ấn Độ Ahamed cũng cho biết, Ấn Độ sẵn sàng bổ sung nội dung vào “Quan hệ đối tác chiến lược” đã được ký năm 2007, đặc biệt là về các lĩnh vực kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật và văn hóa.
Từ năm 2005 – 2011, kim ngạch thương mại song phương tăng gấp 5,5 lần. Trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng gấp 15 lần.
Theo thống kê, các mặt hàng nông sản có thế mạnh của ta xuất khẩu vào thị trường Ấn Độ như: cà phê, hạt tiêu, cao su… chiếm 16-18% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ hàng năm. Tuy nhiên, theo Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ, chúng ta còn xuất thô quá nhiều, còn bán qua trung gian, còn bị ép giá nhất là khi xuất khẩu với số lượng lớn, chưa xây dựng được thương hiệu. Do vậy, giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản chưa cao, chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có.
Bộ Công thương cho rằng, các doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu thị trường nông sản Ấn Độ: nhu cầu, thị hiếu, giá cả, tập quán tiêu dùng, hệ thống phân phối, giao lưu hợp tác quốc tế…
Đưa hàng nông sản thương hiệu Việt Nam tham gia các hội chợ, triển lãm, gửi bán tại các siêu thị, quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng… tiến hành các chiến dịch quảng bá trực tiếp hàng nông sản Việt Nam đến người tiêu dùng Ấn Độ.
Trong khi đông đảo các doanh nghiệp Ấn Độ chủ động đến Việt Nam thì số lượng các doanh nghiệp Việt Nam đến Ấn Độ còn hạn chế. Các doanh nghiệp Ấn Độ đã thành lập Phòng Kinh doanh Ấn Độ tại Việt Nam và có hơn 100 văn phòng đại diện thường trú của các công ty Ấn Độ tại Việt Nam. Trong khi đó chưa có một văn phòng đại diện của doanh nghiệp Việt Nam tại Ấn Độ. Còn nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm đúng mức đến thị trường Ấn Độ, ngại khó, hạn chế sự hiểu biết về thị trường, đối tác cũng là một nguyên nhân khiến xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Ấn Độ chưa phát huy hết tiềm năng.
Chính vì vậy, theo Bộ Công thương, các hiệp hội ngành hàng và các cơ quan quản lý nhà nước cần quan tâm nhiều hơn nữa đến thị trường Ấn Độ rộng lớn và nhiều tiềm năng. Kim ngạch xuất khẩu ban đầu có thể nhỏ nhưng ta sẽ có sự hiện diện vững chắc trên thị trường mang lại nguồn lợi bền vững.
|
Giao thương với thương nhân Ấn Độ cần chú ý những điểm gì? Ông Trần Quang Huy - Phó Vụ trưởng, Vụ châu Phi, Tây Á, Nam Á: Đây là vấn đề rất rộng và đòi hòi thực tế của người quan tâm, tuy nhiên cần chú ý một số điểm sau: - Xưng hô với các đối tác Ấn Độ bằng các chức danh của họ. - Trao Danh thiếp từ đầu cuộc họp. - Người Ấn Độ không phải là người đặc biệt đúng giờ. - Kiên nhẫn khi đối tác nói nhiều, vòng vo. - Chuẩn bị kỹ các phương án, sách lược cho đàm phán. Người Ấn Độ giỏi tiếng Anh và giỏi đàm phán và rất thông minh, được đào tạo bài bản. - Khi gặp nên tặng quà. - Doanh nghiệp Việt Nam cần tìm hiểu thêm những nét cơ bản về phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng, khả năng kinh tế và sức mua của từng loại đối tượng khác nhau tại Ấn Độ. Cân nhắc phương án mở VPDD tại Ấn Độ. - Tăng cường đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ để có được các loại hàng hoá chất lượng nhưng giá cả cạnh tranh. - Cần tăng cường công tác xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường và khách hàng. Tham gia các hội chợ, triển lãm, hội thảo tại Ấn Độ,.. - Cần nâng cao hơn nữa trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý và thực thi xuất nhập khẩu, phục vụ cho công tác xuất nhập khẩu với thị trường Ấn Độ, đặc biệt lưu ý trong vấn đề về hợp đồng thương mại, cần chặt chẽ theo khuôn mẫu chuẩn sẵn có và tuân thủ theo nó triệt để (các điều khoản chất lượng, thanh toán, tranh tụng,....) |