Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn
Theo ESCAP, nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và có tiềm năng lớn về dài hạn.
Báo cáo Đầu tư và Thương mại khu vực năm 2011 mà Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) - Liên hợp quốc vừa công bố đã dành hai trang để nói về tình hình đầu tư và thương mại của Việt Nam, trong đó khẳng định: Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và có tiềm năng tăng trưởng dài hạn.
Theo báo cáo của ESCAP, Việt Nam hiện đứng thứ năm về xuất nhập khẩu hàng hóa và đứng thứ sáu về dịch vụ trong các nước ASEAN. Với thứ hạng trên, trong ASEAN, Việt Nam hiện chiếm khoảng 7% hàng hóa xuất khẩu và 9% hàng hóa nhập khẩu; trong khi thị phần dịch vụ thương mại chiếm 3%. Xét trong phạm vi rộng hơn là khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 14 về xuất khẩu hàng hóa, chỉ chiếm 1,3%; và đứng thứ 16 về xuất khẩu dịch vụ thương mại với thị phần dưới 1%. Tỷ lệ xuất khẩu trên GDP đứng ở mức 61,3% trong năm 2009.
So sánh cho thấy, Việt Nam ít phụ thuộc vào xuất khẩu hơn so với Malaysia và Singapore, nhưng lại phụ thuộc vào xuất khẩu nhiều hơn nếu so với các nền kinh tế khác như Indonesia, Philippines và Thái Lan. Báo cáo đưa ra dự báo tăng trưởng xuất khẩu Việt Nam năm 2012 sẽ ở mức 8,9%.
Trong thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong đa dạng hóa xuất khẩu. Nếu trước đây, xuất khẩu sang thị trường Mỹ và EU là các động lực chính cho các nền kinh tế khu vực thì xu hướng này đang dần thay đổi với việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ nội khối ngày càng tăng lên. Việt Nam cũng vậy, một phần lớn thương mại là giao dịch nội khu vực. Năm 2009, 48% tổng lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam là đến các thị trường ở CA - TBD, trong khi nhập khẩu từ khu vực này là 74,5%. So với các nước khác trong khu vực ASEAN, nhập khẩu của Việt Nam từ khu vực này có cao hơn đôi chút.
Báo cáo cũng nhấn mạnh, dựa trên các cấu trúc thương mại trong năm 2008, xuất khẩu của Việt Nam rất phù hợp với nhu cầu nhập khẩu của Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản và Thái Lan. Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam vẫn dưới mức tiềm năng và có thể tăng trưởng mạnh hơn nếu chúng ta có thể đa dạng hóa khả năng để đáp ứng các nhu cầu của khu vực.
Tính đến nay, có 8 Hiệp định thương mại khu vực mà Việt Nam tham gia đã có hiệu lực. Là thành viên của ASEAN, Việt Nam là một bên trong các hiệp định thương mại giữa ASEAN với Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand và Hàn Quốc. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã ký hiệp định thương mại song phương với Nhật Bản. Kể từ năm 2005, thời gian cần thiết để hoàn tất các thủ tục thương mại đã giảm được 8,5%, từ 24 ngày năm 2005 xuống còn 22 ngày năm 2010. Trong giai đoạn trên, chi phí thương mại cũng giảm tới 30%.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam hiện đứng thứ 53 trên thế giới về Chỉ số Phát triển Hậu cần (LPI), với mức điểm 2,96. Trong 5 năm qua, Việt Nam đã thu hút được đáng kể dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với mức tăng trưởng mình quân 22%/năm. Việt Nam hiện đứng thứ 4 trong số các nước ASEAN về thu hút FDI.
Báo cáo của ESCAP kết luận, nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và có tiềm năng lớn về dài hạn. Tuy nhiên, báo cáo này cũng chỉ ra, những bất ổn kinh tế vĩ mô đang là một thách thức và rủi ro ngắn hạn có thể cản đà tăng trưởng cũng như gây ra quan ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, lạm phát cao có thể hạn chế tiêu dùng cá nhân, làm tăng chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam.
Đối với khu vực CA - TBD, báo cáo chỉ ra rằng, chỉ bằng cách bớt phụ thuộc vào xuất khẩu sang các nền kinh tế phát triển lớn, đồng thời dựa nhiều hơn trên chính nhu cầu nội khối của mình thì các nền kinh tế khu vực CA - TBD mới duy trì được vai trò là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế toàn cầu như đang có hiện nay. Báo cáo đánh giá, việc xuất khẩu phục hồi giúp khu vực CA - TBD vượt ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và cho phép khu vực nổi lên như một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, thách thức để giữ được động lực này cũng đang lớn dần xét trong bối cảnh các nền kinh tế phát triển hàng đầu là Mỹ, EU và Nhật Bản (còn gọi là 'Nhóm bộ Ba') có nguy cơ suy giảm kinh tế trong trung và dài hạn. Nhiều khả năng các nền kinh tế đang phát triển tại khu vực - vốn dựa nhiều vào xuất khẩu - sẽ chỉ đạt mức tăng trưởng xuất khẩu ở mức 9% trong năm 2011, giảm mạnh so với mức 17,3% năm 2010. Do đó, điều mà người ta kỳ vọng là các nền kinh tế khu vực sẽ dần bớt phụ thuộc vào cầu tiêu dùng của Nhóm bộ Ba, đồng thời dựa nhiều hơn trên chính nhu cầu nội khối của mình.
Và theo nhận định của ESCAP, điều này hoàn toàn có thể thành hiện thực nếu lãnh đạo các nền kinh tế trong khu vực khai thác tốt các xu hướng và cơ hội hiện nay như: Nhu cầu cho tăng trưởng nhanh và quá trình hiện đại hóa đô thị rộng khắp trong khu vực, đặc biệt là tại Trung Quốc và Ấn Độ; cơ hội kinh doanh mới cho các nhà sản xuất trong khu vực phát triển và xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ mới liên quan, đặc biệt là các lĩnh vực như nước, năng lượng và các loại máy móc sử dụng nhiên liệu hiệu quả trong bối cảnh nhận thức toàn cầu ngày càng tốt hơn về tình trạng biến đổi khí hậu; nhu cầu nhập khẩu lớn của các nền kinh tế thu nhập thấp trong khu vực…/.