Thành đá Tây Đô
Thành Tây Đô trong lịch sử (còn gọi là Thành An Tôn, Tây Giai, Tây Kinh), hay dân gian vẫn quen gọi là Thành Nhà Hồ là một kiến trúc độc đáo. Đó là một kiến trúc bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới.
Thành Tây Đô, hay còn gọi là Thành Nhà Hồ, thuộc địa phận hai thôn Tây Giai, Xuân Giai thuộc xã Vĩnh Tiến và Thôn Đông Môn thuộc xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thành được Hồ Quý Ly cho xây khi ông còn làm quan dưới triều Trần, với ý đồ dời đô từ Thăng Long về Thanh Hóa. Với tính chất của một kinh đô, thành Tây Đô được thiết kế xây dựng hết sức công phu và vững chắc.
Xét về mặt quy hoạch và vị trí xây dựng, Tây Đô có địa thế hiểm trở, lợi thế về mặt phòng thủ quân sự. Điều đặc biệt nhất là toàn bộ tòa thành được xây bằng đá khối lớn.
![]() |
|
Con đường đi vào cửa chính phía Nam |
Thành Tây Đô có mặt bằng hình chữ nhật gần vuông, mặt chính quay hướng Đông Nam (vẫn coi như phía Nam); kích thước: tường thành phía Nam và phía Bắc dài 877,1m và 877m, hai tường thành phía Đông và phía Tây dài 879,3m và 880m; thành có chu vi 3.513,4m và diện tích 769.086m2, (khoảng 77 ha).
Thành có 4 cửa, được mở ra từ chính giữa của bốn bức tường thành bằng đá. Trục chính của thành không theo đúng hướng Bắc Nam, nhưng các cửa này vẫn được gọi tên theo bốn hướng chính: Cửa Nam, Cửa Bắc, Cửa Đông, Cửa Tây (hay còn có các tên tương ứng là các cửa: Tiền, Hậu, Tả, Hữu). Hiện nay, hai con đường trục nối giữa Cửa Bắc với Cửa Nam và Cửa Đông với Cửa Tây tạo thành hình chữ thập, giao nhau nhau tại tâm điểm của tòa thành.
Qua khỏi các cửa, các con đường này tiếp tục tỏa về bốn phía. Trừ con đường đi về phía Bắc hơi lệch về hướng Tây Bắc, các con đường khác đều thẳng theo hai trục chính trong thành nội. Những nghiên cứu khảo cổ học cho thấy con đường chạy về hướng Nam cũng là hướng đi tới đàn Nam Giao trên núi Đốn Sơn.
Theo các tài liệu và thư tịch cổ, cùng với việc khảo cổ, nghiên cứu hiện trạng, các nhà nghiên cứu đã bước xác định được các thành phần kiến trúc của tòa thành gồm: Tường thành, cửa thành, hào thành, các kiến trúc và hồ nước bên trong. Tuy nhiên, trải qua hơn 600 năm, cùng sự tàn phá của thiên tai, chiến tranh, các kiến trúc đền đài cung điện hoàn toàn không còn. Các hào nước hộ thành ở bên ngoài và hồ nước trong thành còn lại ít nhiều dấu vết, còn lại nhiều nhất chính là tường thành và cổng thành bằng đá.
Tường thành tuy cũng bị hủy hoại nhưng nhiều đoạn vẫn khá nguyên vẹn với chiều cao trung bình là 5-6m, có nơi cao gần 10m như ở Cửa Nam. Mặt thành rộng 4-5m, thoải dần vào phía trong. Phía ngoài thành gần như dựng đứng với những phiến đá lớn được đẽo gọt công phu, có những phiến nặng 15-20 tấn, xếp hình chữ “công” chồng khít lên nhau và không hề có chất liên kết giữa các khối đá.
Bốn cửa thành Nam - Bắc – Đông – Tây cũng được xây bằng đá kết nối với tường thành. Tất cả bốn cửa đều sử dụng kỹ thuật - kết cấu xây cuốn vòm, với các phiến đá trên cửa có hình múi bưởi. Trong bốn cửa thì Cửa Nam (cửa chính) lớn nhất, Cửa Bắc có hình thức khối kiến trúc giống cửa Nam nhưng nhỏ hơn, các Cửa Đông và Cửa Tây giống nhau và nhỏ nhất.
![]() |
|
Cửa Nam nhìn từ phía trong thành |
Thành Tây Đô chỉ là kinh thành trong một thời gian ngắn ngủi, và những kiến trúc trong thành đều bị phá hủy. Nhưng những gì còn lại vẫn là một chứng tích mạnh mẽ đến khó tin về khả năng con người và kỹ thuật xây dựng đá thời bấy giờ. Sử sách ghi lại thời gian thi công xây dựng ngắn tới mức kinh ngạc: 3 tháng. Cho tới giờ người ta vẫn chưa hiểu bằng cách nào mà Hồ Quý Ly cùng dân binh có thể gia công, vận chuyển, và xây lắp những phiến đá lớn cho một công trình quy mô như vậy trong khoảng thời gian trên?
Lịch sử phong kiến Việt Nam gắn với nhiều thành trì, thành lũy, nhưng thành đá cùng kỹ thuật xây dựng như thành Tây Đô chỉ có một. Các nhà khoa học cũng nhận định: đây là tòa thành lớn nhất, có giá trị và độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở Đông Nam Á, là một trong rất ít thành đá còn lại trên thế giới.
Thành nhà Hồ được công nhận di tích quốc gia từ năm 1962 nhưng đã có một thời gian dài bị quên lãng và thậm chí bị xâm hại. Nhưng thật may mắn khi những giá trị chân chính được khẳng định và phục hồi. Từ cuối tháng 11/2006, tỉnh Thanh Hóa thành lập Ban chỉ đạo xây dựng hồ sơ di sản văn hóa thế giới cho cụm di tích Thành Nhà Hồ; Sở Văn hóa - Thông tin Thanh Hóa là cơ quan thực hiện việc xây dựng hồ sơ. Đồng thời, nhiều biện pháp bảo tồn đã và đang được triển khai.
Vào ngày 29/9/2009, UNESCO đã nhận được hồ sơ khoa học đề cử Khu di tích Thành Nhà Hồ (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam) là Di sản văn hóa thế giới.
“Thành Nhà Hồ” – Tây Đô một thủa - hoàn toàn có thể trở thành di sản văn hóa thế giới bởi những giá trị lớn lao mà nó đang chứa đựng; là niềm tự hào của Việt Nam về một giá trị kiến trúc đặc biệt, cũng là kỳ tích trong lịch sử xây dựng của người Việt./.
![]() |
|
Cửa Nam nhìn từ bên ngoài thành |
![]() |
|
Đoạn tường thành phía ngoài sát cửa Nam |
![]() |
|
Tường thành phía ngoài cửa Tây |
![]() |
|
Cửa Tây nhìn từ phía trong thành |
![]() |
|
Tường ngoài cửa Đông - những phiến đá ghép rất khít với nhau. Nơi đây hiện đang giải tỏa một số công trình dân sinh xây dựng sát tường thành, nhằm trả lại cảnh quan cho di tích và phục vụ cho công cuộc bảo tồn, trùng tu. |
![]() |
|
Cửa Đông nhìn từ phía trong thành |
![]() |
|
Đôi Rồng đá được phát hiện năm 1937 trong khu thành nội , hiện đang đặt trên trục đường cửa Nam - Bắc của thành |
![]() |
|
Cửa Bắc nhìn từ ngoài thành |
![]() |
|
Khung cảnh bình yên bên ngoài thành phía Bắc |
![]() |
![]() |
|
Một đoạn tường thành bị vỡ phía Bắc |
![]() |
|
Đoạn tường thành cửa Bắc nhìn từ trên nóc cửa |
![]() |
|
Dấu tích chân cột ở thềm đá trên nóc cửa Bắc. Nơi đây trước kia có một kiến trúc gỗ dạng vọng lâu |
![]() |
|
Từ cửa Bắc nhìn về phía cửa Nam. Trong thành các kiến trúc xưa không còn, giờ đây chỉ là màu xanh của đồng ruộng |
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)