Bài 2: Những bước thăng trầm
Trong khi nội địa hóa linh kiện ô tô là mục tiêu chính của thập niên 1970, thì mục tiêu chính của thập niên 1980 là hệ thống hóa và phát triển ngành sản xuất linh kiện với khối lượng lớn để xuất khẩu
Năm 1972, thất bại trong việc tiếp tục cộng tác với Toyota Nhật Bản và để sống còn, Sinjin Automobiles buộc phải liên doanh với General Motors, thành lập công ty General Motors Korea (GM Korea) và cho xuất xưởng các mẫu lắp ráp từ Chevrolet, GMC. Sau đó (1974), Sinjin lại liên doanh với American Motors, lập phân nhánh Sinjin Jeep Motor Co., để lắp ráp xe Jeep, và kể cả với Opel (Đức) để sản xuất Opel Rekord. Đến 1976, GM Korea đổi tên thành Saehan Automobiles và sản xuất các chủng xe Opel và Isuzu.
Năm 1973, Kia Industry hoàn thành nhà máy hiện đại lắp ráp ô tô Sohari tại Gwangyung. Đến năm 1976, Kia mua lại một phần của Asia Motors. Trong thời gian này Kia Industry sản xuất ô tô với sự hợp tác kỹ thuật của Hino và Mazda. Các dòng xe Kia Titan, Kia Bongo, Kia KB, Kia Brisa trở nên rất thông dụng tại Hàn Quốc.
Với Hyundai, chiến lược ngay từ những ngày đầu là đầu tư vào chiều sâu về công nghệ và quản lý. Từ năm 1974, Hyundai Motors mời George Henry Turnbull (của công ty British Leyland Motor Corp.) về làm phó chủ tịch. Năm 1975, viện nghiên cứu Kỹ Thuật Hyundai được thành lập. Cũng trong năm này chiếc Hyundai Pony ra đời, và là một sự cộng tác kỹ thuật đa quốc gia: 1/ Thiết kế từ Italdesign (Ý). 2/ Động cơ và hộp số từ Mitsubishi (Nhật). 3/ Hệ truyền động từ Perkinson (Mỹ). 4/ Khuôn mẫu thân xe từ Ogihara (Nhật). 5/ Máy dập khuôn từ Pháp. 6/ Vốn vay từ 2 ngân hàng, Barclays Bank (Anh) và France Suez (Pháp).
![]() |
|
Hyundai Sonata Y20 mẫu sedan đang được nhiều người Việt Nam chú ý |
Năm 1976, Hyundai Pony được xuất sang Ecuador ở trung Mỹ, và được coi là chiếc xe đầu tiên chế tạo tại Hàn Quốc được xuất khẩu. Hyudai không chỉ tìm kiếm, học hỏi kỹ thuật từ Mitsubishi mà còn từ Ford, năm 1978 họ cho ra đời một số chủng xe như Hyundai Ford Cortina, Hyundai Granada.
Năm 1977 Ha Dong-hwan Automobiles đổi tên thành Dong-A Motors và vẫn tập trung lắp ráp các chủng xe Jeep, xe thể thao SUV.
Năm 1979, ngành công nghiệp ô tô Hàn Quốc chịu tác động nặng của cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên, nguyên nhân chính là do tổ chức OPEC quyết định tăng giá xăng dầu đột ngột, gây nên cuộc khủng hoảng năng lượng. Năm này cũng là năm tổng thống Park Chung Hee bị ám sát nên có xáo trộn về chính trị. Tuy vậy, chính phủ mới của Hàn Quốc cũng đã nhanh chóng quan tâm giúp giải quyết tình trạng khó khăn này vào năm 1982, bằng chính sách ấn định sản lượng cho 4 hãng ô tô lớn (Hyundai, Kia, Saehan, và Asia Motors) nhằm tránh sự cạnh tranh gay gắt giữa họ. Chính phủ cũng kéo dài thêm thời hạn cấm nhập khẩu ô tô từ nước ngoài vào Hàn Quốc để bảo hộ các công ty ô tô Hàn từ sự cạnh tranh với bên ngoài.
Trong khi nội địa hóa các linh kiện ô tô là mục tiêu chính của thập niên 1970, thì mục tiêu chính của thập niên 1980 là hệ thống hóa và phát triển ngành sản xuất linh kiện ô tô với khối lượng lớn để xuất khẩu. Để hỗ trợ cho sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, chính phủ chỉ đạo thực hiện chương trình liên kết kỹ nghệ ô tô, công bố vào đầu năm 1980. Theo chương trình này, các nhà đầu tư được ưu đãi về thuế và hỗ trợ về vốn vay.
Vào năm 1967 tập đoàn Daewoo Group được thành lập. Kể từ năm 1972, Daewoo đã cho ra đời 1 chủng xe tải và 1 chủng xe bus, tuy nhiên đây chỉ là 2 bản sao của các dòng xe Isuzu. Mãi đến năm 1982, Daewoo Group mới đầu tư sâu vào lĩnh vực công nghiệp ô tô khi mua lại Saehan Motors. Năm 1983 Saehan Motors được đổi tên thành Daewoo Motors. Cũng như Saehan Motors trước đây, Daewoo Motors tiếp tục liên kết, hợp tác với GMC.
![]() |
|
Kia Forte Koup |
Năm 1981 Sinjin Automobiles đổi tên thành Geohwa Company. Đến năm 1985 công ty này được công ty Dong-A Motors mua lại. Năm 1986, Dong-A Motors đổi tên thành Ssang Yong Motor.
Kia Motors liên kết với Ford, xuất khẩu sang thị trường Mỹ và Úc lần đầu tiên vào năm 1986. Đó là 2 mẫu Ford Festiva và Ford Aspire từ các nguyên mẫu Mazda. Ở thị trường nội địa, đó là Kia Pride và Kia Avella. Nói chung, nỗ lực của Kia không tạo được ấn tượng gì lắm đối với người tiêu dùng ở hai thị trường nói trên.
Hyundai thâm nhập thị trường Bắc Mỹ năm 1983, khi họ thành lập Hyundai Auto Canada Corp., chiếc Hyundai Pony được bán tại Canada vào năm này. So với mẫu năm 1976, chiếc Pony lần này được cải tiến, nâng cao chất lượng cũng như có nhiều ưu điểm hơn, cộng với giá bán rất mềm nếu so với ô tô cùng chủng loại đến từ châu Âu hay Nhật Bản. Kết quả khá khả quan. Năm đó, Hyundai Pony vẫn chưa bán được vào Mỹ vì chưa đạt tiêu chuẩn về khí thải.
Cũng như Kia Motors, đến năm 1986 Hyundai mới thâm nhập được thị trường Hoa Kỳ với sản phẩm là Hyundai Excel, và lập kỷ lục là “chiếc xe có số bán cao nhất trong lần xuất hiện đầu tiên” – 126.000 chiếc! Tờ Fortune Magazine đã vinh danh chiếc Excel với danh hiệu là “10 sản phẩm bán chạy nhất trong năm”, nhưng điều đơn giản mà ai cũng thấy là vì giá bán quá thấp!
![]() |
|
Kia Sorento một chiếc xe mà nhiều người mong được sỏ hữu |
Nếu có sự thành công nào lại nhanh chóng biến thành sự rủi ro cay đắng thì đó là trường hợp của Huyndai Excel. Do chất lượng quá kém, chẳng bao lâu chiếc xe làm thất vọng người mua. Không những xe thường hay gặp sự cố hỏng hóc về máy móc, phần nội thất cũng xuống cấp nhanh chóng. Một số người Mỹ đã nhạo báng bằng cách chế ra những câu đùa cợt từ các mẫu tự của logo hàng hóa, một khi họ không bằng lòng về chất lượng. HYUNDAI được đọc thành ra Hope You Understand Nothing’s Driveable And Inexpensive (hy vọng bạn hiểu rằng chả có thứ (xe) gì có thể lái được mà rẻ cả). Hệ quả của sự kiện trên là doanh số Hyundai những năm tiếp theo rớt xuống một cách buồn thảm và số đại lý trung thành tại Mỹcòn lại rất ít.
Tuy nhiên, thay vì từ bỏ và rút lui khỏi thị trường tiềm năng nhất, Hyundai vẫn kiên trì bám trụ. Hyundai Sonata, sản phẩm xuất khẩu vào thị trường Mỹ tiếp theo, được đầu tư kỹ hơn nữa về chất lượng và được tung ra vào năm 1989. Chiếc xe được coi là sản phẩm Hàn Quốc vì phần thiết kế và toàn bộ linh kiện phụ tùng được sản xuất trong nước, phần động cơ và hộp số được chuyền giao công nghệ từ Mitsubishi.
Năm 1988 cũng đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngành công nghiệp ô tô Hàn, đó là sản xuất cho nhu cầu nội địa đã vượt mức “một triệu xe/năm”. Điều này cho thấy thị trường tiêu thụ ô tô nội địa đã đạt được điều kiện để ngành công nghiệp ô tô Hàn có thể phát triển mạnh mẽ. Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Hàn Quốc KAMA cũng ra đời vào năm này./.


