G-20: Sự bất cập của cơ chế kinh tế toàn cầu
Quan hệ giữa các nước lớn là một chuỗi những thoả hiệp, nhượng bộ lẫn nhau sao cho đạt được lợi ích quốc gia cao nhất. Việc lắng nghe tiếng nói của các nước chậm phát triển và các nước nghèo cũng vẫn chỉ là để tham khảo.
Chỉ trong thời gian hơn 5 tháng kể từ tháng 4- 9/2009, thế giới đã chứng kiến 2 Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G-20) với nội dung bàn thảo chủ yếu xử lý những vấn đề do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Còn tại Hội nghị G-20 lần này, Thủ tướng Anh Gordon Brown kêu gọi hình thành một “cơ chế quản lý kinh tế toàn cầu mới”.
Những quyết định quan trọng
Hội nghị G-20 (4/2009) đã đưa ra quyết định cải tổ và hiện đại hoá các thể chế tài chính theo hướng tăng cường điều tiết và giám sát, nhằm ngăn chặn nguy cơ xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai. Với 7 giải pháp cụ thể bao gồm cơ cấu tổ chức và các thể chế tương ứng bảo đảm cho cơ chế vận hành hữu hiệu như: Thành lập Hội đồng ổn định tài chính (FSB); phối hợp giữa FSB với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và định hình hệ thống điều tiết để kiểm soát các nguy cơ từ chính sách kinh tế vĩ mô ...
![]() |
|
Tại Hội nghị G-20 lần này, Thủ tướng Anh Gordon Brown kêu gọi hình thành một “cơ chế quản lý kinh tế toàn cầu mới”. |
Tuyên bố chung của Hội nghị G-20 (9/2009) khẳng định cam kết sẽ dành cho các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ tiếng nói có trọng lượng hơn trong quá trình tái xây dựng và điều hành nền kinh tế toàn cầu.
Đây là một dấu hiệu mới cho thấy các nước phát triển đã chấp nhận sự cân bằng quyền lực mới trong cơ chế lãnh đạo nền kinh tế toàn cầu. Đặc biệt, các nền kinh tế mới nổi sẽ có nhiều quyền bỏ phiếu tại IMF.
Theo Tổng thống Mỹ Obama, hợp tác toàn cầu sẽ giúp nền kinh tế thế giới quay trở lại quỹ đạo và đặt cơ sở cho sự thịnh vượng trong tương lai, khẳng định vai trò ngày càng lớn của G-20 trong việc điều phối chính sách kinh tế toàn cầu, chức năng vốn do Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G-8) đảm nhiệm trong hơn 30 năm qua.
Lợi ích các nước lớn vẫn là chủ đạo
Qua 2 hội nghị G-20 cho thấy: Mỹ đã đạt được mục tiêu lôi kéo các nước bơm thêm tiền (1.100 tỷ USD) cho các định chế tài chính thế giới, nhằm khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính mà nguồn gốc sâu xa bắt nguồn từ những sai lầm trong chính sách quản lý và hoạt động kinh tế của Mỹ, đồng thời ngăn chặn đà suy thoái kinh tế của Mỹ và thế giới.
Yếu tố đó sẽ giúp cho Mỹ tiếp tục sử dụng "bộ ba" định chế tài chính gồm WB, IMF và FED để chi phối nền tài chính thế giới thông qua đồng USD. Việc "cứu" các nước đang và chậm phát triển thực chất là vì chính nước Mỹ và các nước tư bản phương Tây.
Mỹ và Trung Quốc hiện vẫn có những bất đồng về chiến lược khó có thể dung hoà, vì vị thế của Trung Quốc ngày càng gia tăng và đang cạnh tranh vị trí siêu cường thế giới với Mỹ. Tuy nhiên, để giải quyết khó khăn trước mắt, Chính quyền của ông Obama chủ trương thoả hiệp vì cho rằng, quan hệ Mỹ - Trung sẽ là chiếc “chìa khoá vàng” để giải quyết những khó khăn của Mỹ hiện nay, đồng thời là động lực lớn để hai nước tiếp tục duy trì và phát huy vai trò đầu tàu phát triển kinh tế thế giới.
![]() |
|
Biểu tình phản đối G20 ở London hồi tháng 4/2009. (Ảnh: Reuters) |
Đối với trục Mỹ - EU đã phần nào bị phân hoá thành hai trục Mỹ - Anh và Pháp - Đức, do bất đồng giữa Mỹ và các nước như Đức và Pháp trong biện pháp giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế thế giới hiện nay.
Cuối cùng, Mỹ và EU đã phải dung hoà các bất đồng này: Mỹ được đáp ứng yêu cầu bổ sung nguồn tài chính cho các gói kích thích kinh tế toàn cầu, trong khi Pháp - Đức có được các cam kết của G-20 thắt chặt các quy tắc điều tiết tài chính quốc tế, nâng cao thẩm quyền và vai trò cho IMF.
Trong quá trình triển khai các biện pháp của G-20, những bất đồng giữa hai tiểu trục quan hệ này sẽ tiếp tục nảy sinh, buộc hai bên phải có những thoả hiệp và nhượng bộ nhau trong các lĩnh vực liên quan, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế.
Quan hệ Mỹ - Nga đã có bước phát triển quan trọng sau khi Tổng thống hai nước quyết định "khôi phục lại quan hệ Nga - NATO thành quan hệ tích cực hơn trong thời gian tới". Thời gian gần đây, Mỹ đã có những nhượng bộ, bước đi linh hoạt và mềm dẻo hơn nhằm đạt được những thoả thuận với Nga về nhiều vấn đề chiến lược như vấn đề hạt nhân của Iran và CHDCND Triều Tiên; vấn đề cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược; vấn đề Afghanistan; vấn đề Ukraine và Gruzia gia nhập NATO; vấn đề triển khai hệ thống NMD tại châu Âu...
Nga tiếp tục ủng hộ các quan điểm của châu Âu thiết lập một cơ chế kiểm soát và giám sát chặt chẽ hơn đối với nền kinh tế thế giới, phản đối kế hoạch "đưa thế giới ra khỏi suy thoái bằng cách chi tiêu nhiều hơn của Mỹ". Nga tiếp tục coi trọng quan hệ với Trung Quốc, đẩy mạnh hợp tác mang tính chiến lược thông qua tiến hành "Cơ chế Tham vấn các vấn đề chiến lược"; thúc đẩy quan hệ trong nhóm BRIC (Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc) làm đối trọng với Mỹ.
Trong khi đó, Trung Quốc đang nổi lên như là một nhân tố quan trọng trên trường quốc tế. Nhiều chuyên gia cho rằng, Hội nghị Thượng đỉnh G-20 chỉ là Hội nghị G-2, tức là Mỹ và Trung Quốc bởi tầm quan trọng của Trung Quốc trong giải quyết cuộc khủng hoảng toàn cầu xuất phát từ Mỹ.
Những gì diễn ra trong và sau G-20 cho thấy, Trung Quốc đã trở thành một thành viên then chốt trong nền chính trị thế giới và ngày càng đóng vai trò quốc tế quan trọng hơn. Trong khi Mỹ bị tụt dốc thì Trung Quốc đã tỏa sáng sau 30 năm cải cách, mở cửa. Vì vậy, Trung Quốc hiện đã vượt qua giới hạn "nói không" và đang chuyển dần từ vị thế là "thính giả" sang vị thế của nước "đưa ra ý kiến".
Trung Quốc lên tiếng sẵn sàng đóng góp vào quỹ giúp các nước đang phát triển, song song với thúc đẩy tiến bộ thực sự trong cải cách hệ thống tài chính thế giới, đặc biệt là IMF, theo hướng tăng cường vai trò của các nước trong hệ thống này, trong đó có Trung Quốc.
Sự bất cập vẫn còn lớn
Các giải pháp của G-20 (tháng 4 và 9/2009) đưa ra được coi là tích cực trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập, vì chủ yếu là tạo lợi ích cho các nước lớn, chưa giải quyết được nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính.
Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và sự suy giảm kinh tế, các nước lớn vẫn có xu hướng tăng cường bảo hộ mậu dịch bằng các biện pháp tinh vi hơn, gây khó khăn cho các nước nghèo và đang phát triển trong tiếp cận thị trường, nhất là những quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, các rào cản kỹ thuật và thuế quan...
![]() |
| Cả 2 hội nghị G-20 đều bộc lộ những bất đồng về lợi ích quốc gia của các nước trong các định chế tài chính lớn của thế giới |
Việc đề xuất của nhóm BRIC về sự cần thiết lập một đồng tiền quốc tế khác thay thế đồng USD cho thấy vị thế của đồng USD đã suy giảm, nhưng chọn đồng tiền nào thay thế nó đang còn là câu hỏi khó. Nhiều nước cho rằng, cần sớm bãi bỏ quy chuẩn người Mỹ và châu Âu thay nhau chi phối WB và IMF...
Những động thái trên cho thấy, cho dù không muốn nhưng Mỹ buộc phải chấp nhận chia sẻ phần nào ảnh hưởng ở các thiết chế tài chính nhằm khắc phục những khó khăn trước mắt, nhưng vẫn muốn bảo đảm rằng Mỹ đóng vai trò quyết định trong tương lai gần.
Như vậy, cả 2 hội nghị G-20 đều bộc lộ những bất đồng về lợi ích quốc gia của các nước trong các định chế tài chính lớn của thế giới, và sẽ khó có thể giải quyết trong thời gian trước mắt; theo đó, quan hệ giữa các nước lớn sẽ tiếp tục là một chuỗi những thoả hiệp, nhượng bộ lẫn nhau sao cho đạt được lợi ích quốc gia cao nhất.
Việc lắng nghe tiếng nói của các nước chậm phát triển và các nước nghèo tuy đã được đề cập đến tại các Hội nghị Liên Hợp quốc và G-20 mở rộng, nhưng cũng vẫn chỉ là để tham khảo.
Vì vậy, từ G-8 thành G-20 tuy đã ghi nhận bước chuyển quan trọng trong cơ chế kinh tế toàn cầu nhằm giải cứu cuộc khủng hoảng tài chính, ngăn chặn đà suy thoái kinh tế và thúc đẩy sự phục hồi bền vững và cân bằng của nền kinh tế thế giới là đáng ghi nhận, nhưng vấn đề đặt ra là những cam kết này có trở thành hiện thực hay không?
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chừng nào nền kinh tế thế giới vẫn chịu sự thống trị của các tập tư bản tài chính siêu quốc gia, xuyên quốc gia thì cho dù G-20 có mở rộng bao nhiêu cũng vẫn khó có thể thoát khỏi các cuộc khủng hoảng chu kỳ trong tương lai, nhiều lắm thì người ta cũng chỉ có thể hạn chế phần nào sự thiệt hại do các cuộc khủng hoảng chu kỳ gây ra mà thôi. G-20 vẫn chưa thực sự trở thành cơ chế kinh tế khách quan phản ánh lợi ích kinh tế toàn cầu. /.


