Mỹ - Thổ Nhĩ Kỳ: Căng thẳng vì Armenia
Nghị quyết về các vụ sát hại người Armenia trong Chiến tranh Thế giới thứ I dưới thời đế quốc Ottoman do Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua đã gây căng thẳng giữa Washington và Ankara.
Mâu thuẫn này lại xuất hiện đúng vào thời điểm Mỹ đang rất cần sự hậu thuẫn của Thổ Nhĩ Kỳ trong một số hồ sơ quốc tế.
Mặc dù Nghị quyết trong đó quy kết tội “diệt chủng” vụ sát hại người Armenia trong những năm 1915 và 1916 thời đế chế Ottoman tại Thổ Nhĩ Kỳ, mà Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua, không mang tính ràng buộc, nhưng cũng đủ làm cho quan hệ Mỹ - Thổ Nhĩ Kỳ trở nên căng thẳng.
Ngày 4/3, Thổ Nhĩ Kỳ đã triệu hồi Đại sứ của nước này ở Mỹ về nước. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ, trong một thông cáo ra cùng ngày, đã lên án Nghị quyết của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ và cảnh báo động thái trên của Mỹ sẽ gây hậu quả nghiêm trọng tới mối quan hệ song phương. Ankara cũng nhắc lại quan điểm rằng các vụ sát hại người Armenia trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ I của đế quốc Ottoman, tiền thân của nước Thổ Nhĩ Kỳ, chỉ nên để các nhà sử học nghiên cứu dựa trên những tài liệu và lưu trữ lịch sử chứ không phải công việc của các chính trị gia. Sau khi triệu hồi đại sứ, Thổ Nhĩ Kỳ đã đề cập đến một loạt các biện pháp trả đũa, trong đó có việc huỷ chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng Thương mại Zafer Caglayan dự kiến vào ngày 19/3 tới và khả năng tẩy chay Hội nghị Thượng đỉnh An ninh hạt nhân toàn cầu diễn ra tại Washington từ 11-14/4, cũng như cân nhắc “những lựa chọn mới ngoài Mỹ” về thương mại.
Phản ứng của Ankara lần này mạnh mẽ hơn so với hồi năm 2007, thời đó cũng chính Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua một văn kiện tương tự. Điều này cũng dễ hiểu bởi vai trò và vị thế của Thổ Nhĩ Kỳ đã thay đổi sau khi Ankara thực hiện chiến lược mới và đã thành công trong việc mở rộng ảnh hưởng của mình theo hướng “không xung đột với các quốc gia láng giềng, nâng cao vị thế chính trị với việc sẵn sàng đứng ra đảm nhận vai trò thương thuyết cho tiến trình hoà bình Trung Đông”. Phản ứng của Thổ Nhĩ Kỳ quyết liệt cũng bởi Ankara cho rằng, nghị quyết này phá hoại tiến trình hoà giải giữa nước này và Armenia mới được nhen nhóm sau khi hai nước ký kết hiệp ước khôi phục quan hệ ngoại giao hồi tháng 10 năm ngoái, sau gần một thế kỷ thù địch.
Còn với Mỹ, quan hệ căng thẳng với Thổ Nhĩ Kỳ là điều mà chính quyền Mỹ không hề mong muốn, bởi quốc gia này là thành viên NATO duy nhất thuộc thế giới Hồi giáo, là cầu nối giữa thế giới Hồi giáo và phương Tây và là một đồng minh quan trọng của Mỹ trong khu vực. Việc các nghị sĩ Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua nghị quyết nói trên, tuy chỉ là động thái lặp lại điều họ đã làm năm 2007, nhưng lần này bị đánh giá là “không có tầm nhìn chiến lược” bởi nó diễn ra vào thời điểm Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ cùng các đồng minh lâu nay trong NATO, “đang hợp tác trong một chương trình chung rộng lớn”. Đặc biệt, trong chiến lược của Tổng thống Barack Obama nhằm đoàn kết Afghanistan và Pakistan trong cuộc chiến chống Al Qaeda và Taliban tại khu vực biên giới chung giữa hai nước, Thổ Nhĩ Kỳ có vai trò quan trọng như một trung gian trong việc tổ chức các cuộc đàm phán cấp cao giữa hai quốc gia Nam Á này. Hơn nữa, Thổ Nhĩ Kỳ cũng là một đối tác lớn của Mỹ trong nỗ lực ổn định Iraq.
Về phía các công ty Mỹ, đặc biệt là các công ty quốc phòng và hàng không, phản ứng quyết liệt của Ankara khiến họ lo sợ mất một khách hàng quan trọng, bởi Thổ Nhĩ Kỳ đang tiến hành nhiều dự án mua vũ khí, máy bay lên thẳng và cả máy bay tiêm kích của Mỹ. Chính bởi vậy, chính quyền của Tổng thống B.Obama, sau những cố gắng đến phút chót nhưng bất thành, để vận động Uỷ ban Đối ngoại không bỏ phiếu cho nghị quyết nêu trên, nay đang “nỗ lực hết mình” như lời Ngoại trưởng Hillary Clinton, để đảm bảo rằng văn kiện này không được đưa ra bỏ phiếu tại toàn Hạ viện, và cũng để đảm bảo sự hậu thuẫn của Thổ Nhĩ Kỳ trong một loạt hồ sơ quốc tế đang dang dở./.