AFF Suzuki Cup 2010

Malaysia xứng đáng với ngôi vương

“Liệu cơm gắp mắm” với một đội hình không có nhiều ngôi sao, ông Rajagobal đã cho thấy thế nào là “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng” để xây dựng một cách tiếp cận hợp lý cho đội tuyển Malaysia trước từng đối thủ

Khi Safee Sali sút tung lưới thủ môn Markus Rihhina ở phút thứ 54, người ta đã biết đó là dấu chấm hết cho những nỗ lực của đội tuyển Indonesia cho dù trận chung kết lượt về trên sân Gelora Bung Karno vẫn còn gần 40 phút thi đấu. Rajagobal và các học trò đăng quang ngay trên sân của đối thủ và trở thành “tân vương” của bóng đá Đông Nam Á, một kết quả xứng đáng cho những gì mà Malaysia thể hiện tại giải đấu này.

Trước khi trái bóng của AFF Suzuki Cup 2010 bắt đầu lăn, chắc chẳng có ai dám xếp Malaysia vào một trong hai đội bóng sẽ góp mặt ở trận đấu cuối cùng của giải bởi có quá nhiều đối thủ được xếp “chiếu trên” như đương kim vô địch Việt Nam, Thái Lan, Singapore hay Indonesia. Đội bóng của ông Rajagobal cũng khởi đầu không thể kém cỏi hơn khi thua đậm 1 – 5 ngay trận ra quân. Malaysia chỉ được nhắc đến khi cầm hòa Thái Lan 0 – 0. Phải tới phút cuối họ mới có vé vào bán kết, không phải nhờ vào chiến thắng 5 – 1 trước đội tuyển Lào mà còn nhờ cú đúp của Bambang vào lưới Thái Lan trong trận đấu cùng giờ. Nhưng đó cũng là lúc đánh dấu mốc trên hành trình lịch sử của Malaysia tại giải đấu khu vực.

Trước đương kim vô địch Việt Nam ở vòng bán kết, đội bóng của ông Rajagobal đã thể hiện được một lối chơi không thể khen là đẹp mắt nhưng hợp lý và hiệu quả. Điều đó được duy trì trong cả trận bán kết lượt về và lặp lại kịch bản tương tự ở hai trận đấu quyết định ở Bukit Jalil và Gelora Bung Karno trước Indonesia.

Nếu đem từng vị trí ra so sánh, trong đội hình của Malaysia ít có tuyển thủ nào ngang tầm với các cầu thủ đang khoác áo đội tuyển Việt Nam, Thái Lan hay Singapore. Nhưng Rajagobal đã thực sự là “thầy phù thủy” tại giải vô địch Đông Nam Á lần này, nhào nặn các cầu thủ Malaysia thành một tập thể khó bị đánh bại, dựa trên lối chơi phòng ngự chặt chẽ, thi đấu kỷ luật, nhẫn nhịn chờ cơ hội để tung ra những cú phản đòn mang tính “sát thương” cao.

Safee Sali ‘tịt ngòi” tới hai năm trong các trận đấu của đội tuyển quốc gia, với sự trợ giúp của Bin Talaha bỗng trở thành một “sát thủ” với hai cú đúp vào lưới đội tuyển Việt Nam và Indonesia trên sân Bukit Jalil trước khi đoạt danh hiệu Vua phá lưới với 5 lần lập công. Bên cạnh đó là những Bin Omar, Bin Ahmad, Bin Jasuli, Safiq, Bin Zainal, Bin Samsudin hay Khairul Fahmi.

Người ta sẽ nhắc nhiều tới Rajagobal, ông thầy có gương mặt khắc khổ và là vị HLV bản địa duy nhất dẫn dắt đội bóng của mình vào tới vòng bán kết. Có nhiều ý kiến nhận xét Malaysia chơi không đẹp, rằng nếu đội bóng này đoạt chức vô địch sẽ là nỗi buồn cho bóng đá Đông Nam Á… nhưng xét về tính hiệu quả, họ chính là đội bóng số 1.

“Liệu cơm gắp mắm” với một đội hình không có nhiều ngôi sao, ông Rajagobal đã cho thấy thế nào là “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng” để xây dựng một cách tiếp cận hợp lý cho đội tuyển Malaysia trước từng đối thủ cho tới khi nâng cao chiếc cúp vàng lần đầu tiên trong lịch sử bóng đá quốc gia này. Malaysia đã chấp nhận làm lại từ đầu sau công cuộc làm trong sạch nền bóng đá của quốc gia này khi hàng trăm cầu thủ, trọng tài bị bắt vì liên quan đến tiêu cực. Một thời gian dài trắng danh hiệu và giờ đây, bóng đá Malaysia đang “thống trị” khu vực khi đội tuyển quốc gia vô địch Đông Nam Á chỉ đúng 1 năm sau khi U23 quốc gia giành HCV SEA Games.

Không dùng HLV ngoại, đội tuyển không có cầu thủ nhập tịch và giải vô địch quốc gia không có ngoại binh, cách làm của bóng đá Malaysia có phần “quá khích” nhưng nó đã mang lại hiệu quả bước đầu và có thể xem đây là bài học cho Singapore, Philippines và cả Indonesia, những đội tuyển được tăng cường sức mạnh bằng “dòng máu ngoại”, hay Việt Nam – nơi mà những vị trí quan trọng nhất của các CLB tham dự giải vô địch quốc gia đang thuộc về những ngoại binh.

Trong bóng đá, người ta chỉ nhớ tới người chiến thắng và niềm vui của người này cũng sẽ là nỗi buồn của kẻ khác. Người hâm mộ chứng kiến những “thế lực” một thời của bóng đá Đông Nam Á như Singapore hay Thái Lan dừng bước từ vòng bảng hay Việt Nam bị loại ở bán kết. Có thể coi đó là một kết cục tất yếu khi Singapore đã trở nên “cũ kỹ” với những con người và lối chơi không thay đổi sau nhiều năm. Thái Lan không còn là chính họ và đội tuyển Việt Nam dù gồm những cầu thủ chưa phải đã nhiều tuổi nhưng tính chiến đấu đã phần nào giảm sút. Đó cũng là nguyên nhân dẫn tới những cú sốc cứ liên tục xảy ra tại giải đấu năm nay như Lào hòa Thái Lan, Philippines cầm chân Singapore trước khi vượt qua Việt Nam, Malaysia loại nhà đương kim vô địch ở bán kết…

Khoảng cách giữa các đội bóng ở khu vực Đông Nam Á đang dần được rút ngắn và sẽ không còn những giai đoạn “làm mưa làm gió” của một đội tuyển như Thái Lan từng có trước đây. Nó mang lại những bất ngờ, tăng thêm sự hấp dẫn cho những cuộc tranh tài nhưng cũng đặt ra một vấn đề: Bao giờ bóng đá nơi đây có 1 đội bóng thực sự vượt qua được “vùng trũng” đứng ngang tầm với các đội tuyển mạnh của châu lục, chứ chưa tính đến đẳng cấp thế giới. Hy vọng từng được đặt vào Thái Lan, nhưng điều đó giờ đã trở nên xa vời bởi đã gần 10 năm qua, họ còn không giành nổi một danh hiệu vô địch khu vực, trong khi Singapore, Việt Nam hay Malaysia dù vô địch Đông Nam Á nhưng chưa đạt tới sự ổn định cần thiết để có thể vươn lên đẳng cấp cao hơn.

Một giải đấu nữa đã trôi qua với nhiều vui buồn quanh trái bóng tròn AFF Suzuki Cup 2010, bóng đá Đông Nam Á đã có nhà vô địch mới và cũng có thêm nhiều câu hỏi mới cần lời giải đáp từ những người làm bóng đá của từng quốc gia trong khu vực để sự phát triển thực sự vững mạnh là cùng đi lên chứ không đơn thuần là thu hẹp khoảng cách./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.