Cấy cày vốn nghiệp… văn gia
Tuổi Trâu (Đinh Sửu), Kỷ Sửu này giáp vòng thứ 6 (72 cái xuân xanh) nhưng trông thi sĩ, nhà văn Trần Hiền Ân (tên thật Trần Sĩ Huệ) vẫn còn phong độ lắm lắm, cả trên ruộng văn lẫn ruộng đời.
Trên 15 đầu sách đầy đặn đã xuất bản và còn chừng ấy bản thảo đang “lưu kỷ niệm”. Thành công đã nhiều nhưng cay đắng cũng không ít, tôi nhận thấy vui buồn đời ông dồn trong một chữ CÀY lung linh trên từng luống văn, luống tình…
Người trai soạn sách giáo khoa
Trần Hiền Ân vào đời bằng nghề giáo lúc tròn 20 tuổi và theo nghề gần 20 năm. Nghề “đưa đò” đem lại cho ông sự mực thước và trẻ trung của tâm hồn thông qua bao thế hệ học trò đến giờ vẫn còn ơi ới: “Thầy, thầy ơi, đọc truyện thầy xúc động quá…”. Có lẽ tình yêu đời này đã đưa ông đến và trụ vững qua bao sóng gió nghiệp văn.
Thế nhưng một ấn tượng “bái phục” đối với nhiều người là việc: thầy giáo làm thơ Trần Hiền Ân đã tham gia biên soạn sách giáo khoa lúc 23 tuổi, tức mới đi dạy 3 năm! Chuyện theo ông kể là thế này: “Hồi đó (1960), dạy ở trường tiểu học Phong Niên (xã Hòa Thắng, Tuy Hòa, Phú Yên), mình cộng tác với tuần báo “Tuổi Xanh” dành cho thiếu nhi, do một số nhà giáo có uy tín chủ trương; một số nhà giáo soạn sách giáo khoa thấy một số bài thơ của mình phù hợp nên đưa vào phần học thuộc lòng sách “Quốc văn toàn tập”, “Việt ngữ tân thư” bậc tiểu học. Trong đó có bài “Chuyến đi dài” nói về đặc điểm các nơi trên đất nước, mỗi tỉnh chỉ 1 câu, bây giờ nhiều người còn thuộc.
Đến năm 1963, Ban biên soạn bộ sách giáo khoa tiểu học “Tân Việt văn” đã đặt mình viết phần học thuộc lòng. Họ gởi cho mình chủ điểm chương trình học một năm, rồi mình căn cứ theo đó viết các bài học thuộc lòng cho từng tuần; mỗi lớp khoảng 40 bài học thuộc lòng/năm, mỗi bài từ 4-16 câu tùy lớp lớn nhỏ. Mình ngồi sáng tác, đặt thơ theo từng chủ đề như Ngày khai trường, Bạn bè, Thầy cô, Trung thu, Tết…; viết làm sao cho ý tứ trong sáng, dễ nhớ, dễ thuộc là đạt yêu cầu! Nếu bài nào gởi vào Sài Gòn, Ban biên soạn thấy chưa đạt thì đề nghị viết lại. Sau đó, mình tham gia biên soạn tiếp một bộ sách giáo khoa khác cho bậc tiểu học dự định sẽ in vào mùa hè 1975”.
Năm tháng trôi qua nhiều quá, các bài ấy đã thất lạc, thỉnh thoảng gặp một người trong thế hệ học sinh thời ấy, họ đọc lại cho nghe. Tác giả thì chỉ còn nhớ loáng thoáng. Ông đọc một đoạn trong bài “Về bến cũ”, in sách lớp Năm: “Lâu rồi phiêu bạc trùng khơi / Đời tôi gắn với biển trời thiên nhiên / Quản gì nắng đổ mưa nghiêng / Rày đây mai đó khắp miền xa xăm (…) Mai này gió lặng sóng im / Thuyền về bến cũ, ta tìm phương nam / Đây rồi sóng biếc mây lam / Hoàng hôn hải cảng muôn vàn đẹp xinh (…) Đoàn tàu san sát thả neo / Thuyền con gác mái buông chèo nghỉ ngơi / Bờ xinh bến mộng như mời / Tình quê hương thắm đượm lời núi sông / Ra khơi sóng nước bềnh bồng / Trở về bến cũ cho lòng thêm vui”. Bài “Quê ngoại”, in sách lớp Ba: “Đường về quê ngoại xa xa / Đèo cao chắp nối chuyến phà sang sông / Lại băng qua một cánh đồng / Xanh xanh ruộng lúa, chòm bông, luống mè / Mỗi năm cứ đến dịp hè / Phượng hồng nở giữa tiếng ve gọi đàn / Ba gian nhà ngoại rộn ràng / Đón bầy cháu nhỏ về làng thăm chơi / Vườn sau ngõ trước vang lời / Cho lòng ngoại ấm tuổi trời già nua”.
Rồi ông bày tỏ: “Viết sách giáo khoa khá nhọc công, cần có kinh nghiệm. Ví như sách Việt ngữ tiểu học có 4 phần: ngữ vựng, tập đọc, chính tả và học thuộc lòng. Chính tả dùng một đoạn quan trọng trong bài tập đọc. Tập đọc và học thuộc lòng phải có các từ trong bài ngữ vựng, gồm danh từ, động từ, tính từ, cho nên soạn bài học lòng không phải khơi khơi mà phải có các từ cần thiết của ngữ vựng, như trong bài “Về bến cũ” phải có các từ: biển, bến, sóng, tàu, thuyền, buồm, chim biển, gác mái, buông chèo, thả neo, sóng nước bềnh bồng,... Thế nhưng, nhiều người cứ nghĩ phải “già” mới soạn được sách giáo khoa, mình cho là không đúng!”.
Đừng ngại ngùng đời vất vả gian nan
Căn nhà 20/3 Chu Mạnh Trinh trong hẻm sâu của lão nhà văn Trần Hiền Ân vẫn bình lặng, khiêm nhường sau một khu phố ẩm thực Tuy Hòa như lần đầu tôi đến cách đây 20 năm. Ông và vợ Phạm Thị Hoa với cả 6 con, 5 rể - dâu và 8 cháu, thường đi về vui vầy sum họp nơi căn nhà này. Khi “quân ngũ” rút đi, căn nhà lại yên ắng như cũ. Để ý kỹ, có khác chăng là mấy cây trạng nguyên lá đỏ đã thay bằng vài chậu hoa treo hững hờ, trong nhà thì đã có bộ vi tính và vài thứ máy nghe nhìn xịn… Tác phẩm ông bây giờ đã chuyển qua “meo” nhưng tôi chợt nhớ một lúc biên tập những trang bản thảo viết tay rõ ràng, đẹp thẳng tắp của nét chữ học trò Lương Văn Chánh (trường trung học lâu đời nhất ở Phú Yên) không lẫn vào đâu được…
Một ngày của ông bây giờ là đi dạo thể thao, viết, đọc và viết; thỉnh thoảng đi giỗ chạp, thăm thú bà con anh em, điền dã lấy tư liệu cho những vấn đề đang khảo cứu. Gần đây, nhân dịp dự mấy cái trại viết được du lịch đây đó, giao lưu anh em nên cũng vui tuổi xế chiều; đôi khi vợ chồng ông cũng làm chuyến du lịch bỏ túi. Vậy là thư nhàn! Những trang bản thảo vẫn đều đặn chất chồng, bất kể tuổi tác, bất chấp những điều bắng nhắng từ cái nghiệp chữ mang lại. Ông bảo: “Viết lách là điều mình thích thú nên có đày ải trên trang giấy bao nhiêu nữa cũng bởi vì niềm vui, tình yêu sâu nặng với con người, cuộc đời”. Có thể nói, văn xuôi là mảng ông được đánh giá cao, có nhiều người đọc nhưng khi tôi hỏi “Thích “món” nào nhất?”, ông nói ngay: “Thơ. Tạo tác được một bài thơ tâm đắc, thấy đời thú vị lắm! Thế nhưng giờ thấy viết biên khảo là “an toàn” nhất, bởi chỉ nói chuyện… xưa”.
Chia tay tôi, nhân nói đến năm tuổi, ông đọc mấy câu trong bài thơ Nắng sớm - Con trâu và Thi nhân, viết cho con trai Trần Triêu Ngõa Huyến sinh năm 1973 (Quý Sửu):
Ơi thằng trâu con!
Cùng ta tuổi Sửu
Đừng ngại ngùng đời vất vả gian nan
Dòng Man Khê vẫn nồng men ấm rượu
Đường trăng rung bóng lá cũng thư nhàn…./.
|
Trần Hiền Ân sinh ngày 15/7/1937. Quê quán: làng Vân Hòa, tổng Sơn Xuân, huyện Sơn Hòa, Phú Yên. Hiện sống và và làm việc tại TP Tuy Hòa. Hội viên Hội Nhà văn VN, Hội Văn nghệ dân gian VN, Hội Nhà báo VN, Hội Khoa học lịch sử VN. Tác phẩm đã xuất bản: Thuyền giấy (tập thơ, 1967); Năm năm dòng sông thơ (tập thơ, 1973); Phú Yên, dọc đường… ca dao (biên khảo, Sở VHTT Phú Yên, 1995); Tiếng hát nhân ngư (tập truyện ngắn, NXB Văn nghệ TP.HCM, 1997); Lời trên lá (tập thơ, NXB Trẻ, 1997); Một nửa chân trời (truyện thiếu nhi, NXB Trẻ 1997); Văn hóa vật chất nông thôn Phú Yên (biên khảo, Hội VNDG VN,2001); Mùa hè quê ngoại (truyện thiếu nhi, NXB Trẻ 2002); Khói của ngày xưa (tập truyện ngắn, Hội VHNT Phú Yên, 2003); Huyền thoại mở đất (truyện, NXB Trẻ 2003); Phú Yên, miền đất ước vọng (biên khảo, NXB Trẻ, 2004); Ngọn cờ quân thứ (truyện, NXB Trẻ 2006); Rừng cao (tập thơ, NXB Thanh Niên, 2007); Phú Yên, thời khẩn hoang, lập làng (biên khảo, NXB Nông Nghiệp, 2007); Phú Yên, văn hóa theo dòng sông nước (biên khảo, Hội VHNT Phú Yên, 2007)… Cùng nhiều sáng tác, biên khảo in chung. |