Hành trình 10.000 ngày vì Lời thề độc lập
Vị tướng ngồi trước mặt tôi sôi nổi kể về những ngày tháng lịch sử hào hùng đã qua. Trên khóe mắt nhăn nheo, những giọt nước mắt trào dâng niềm xúc động và cả niềm vui sướng đến nghẹn ngào.
Ông tự hào là thế hệ của Lời thề độc lập với hành trình 10.000 ngày lịch sử, từ lời thề vang dội của cả dân tộc trong một buổi chiều thu (2/9/1945) tới ngày 30/4/1975, ngày đất nước sạch bóng quân xâm lược, Bắc Nam sum họp một nhà.
Thế hệ của Lời thề độc lập
![]() |
|
Trung tướng Phạm Hồng Cư hồi ức về 10.000 ngày lịch sử của dân tộc |
Rồi khi ông bắt đầu kể chuyện, dường như ngồi trước mặt tôi lúc này không còn là ông cụ đã bước qua tuổi bát tuần. Những lời kể rành rọt, mạnh mẽ và tràn đầy hào sảng phá tan không gian tĩnh lặng trong ngôi nhà nhỏ. Những địa danh lịch sử, những căn cứ địa, những trận đánh… dồn dập hiện về. Và tất cả tựa như một thước phim quay chậm với những câu chuyện tiếp nối mà tôi có cảm giác chỉ cần ngắt đi một đoạn thôi cũng làm mất đi ý nghĩa của nó.
“Tôi thuộc thế hệ của thanh niên Cách mạng Tháng Tám, thế hệ của lời thề độc lập” - ông bắt đầu câu chuyện của mình bằng một lời ngắn gọn như thế.
65 năm về trước, chàng thanh niên 20 tuổi Phạm Hồng Cư, với vai trò là Trung đội trưởng tự vệ cứu quốc, tự hào khi được giữ nhiệm vụ tham gia bảo vệ Quảng trường Ba Đình trong ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập.
Trong một buổi chiều mùa thu lịch sử, ánh nắng vàng trải dài trên quảng trường lộng gió. Đứng gần lễ đài, ông thấy một đoàn đại biểu bước lên lễ đài, trong đó có một ông cụ mặc bộ quần áo kaki giản dị. Và đến khi giọng nói xứ Nghệ trầm ấm cất lên, đồng chí Hoàng Phương ghé vào tai ông những lời rành rọt: “Cậu có biết không, ông cụ là Nguyễn Ái Quốc!”. Câu nói ấy khiến lòng ông trào dâng một cảm giác vui sướng, xúc động.
Tiếp sau Tuyên ngôn độc lập là Lời thề độc lập. Tất cả mọi người cùng giơ tay hô vang hai tiếng: “Xin thề!”. Miệng hô vang mà ai nấy nước mắt trào ra. Kể đến đây, vị trung tướng bỗng ngưng lại. Ông nói với tôi rằng, thế hệ của ông đã biết thế nào là kiếp nô lệ, cũng như những ai bị nhốt lâu ngày trong phòng tối mới cảm nhận hết ý nghĩa của không khí và ánh sáng.
Và từ buổi chiều thu lịch sử ấy, ông và những người cùng thế hệ giữ mãi lời thề trong tim. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ngày 30/4/1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi của cuộc trường chinh 10.000 ngày lịch sử của dân tộc, ngày dân tộc ta chiến thắng đế quốc, Bắc Nam sum họp một nhà.
![]() |
|
Quân giải phóng đánh chiếm Dinh Độc lập (ảnh tư liệu) |
Bản hùng ca tháng 4
Trong Đại thắng mùa xuân năm 1975, Trung tướng Phạm Hồng Cư là một trong những người vinh dự và may mắn có mặt tại dinh Độc Lập sau giờ toàn thắng.
Ông kể, ông là phái viên của Tổng cục Chính trị đi với Quân đoàn 2, lực lượng đánh địch trong hành tiến, dọc theo tuyến duyên hải, phá phòng tuyến từ xa của địch ở Phan Rang vào tới Xuân Lộc, góp phần cùng với Quân đoàn 4 phá toang cửa thép ở phía đông Sài Gòn, đánh thọc sâu vào dinh Độc Lập cùng với các cánh quân khác giành toàn thắng cho chiến dịch Hồ Chí Minh.
Khi đến trước thảm cỏ của dinh Độc Lập, ông được chứng kiến những cảnh tượng lịch sử không thể nào quên. Xung quanh là những chiếc xe tăng của Lữ đoàn 203 Quân đoàn 2, những người lính Cụ Hồ ôm nhau hét vang say sưa niềm vui chiến thắng. Thành phố đầy người và cờ hoa chào đón bộ đội. Vui sướng là vậy nhưng nước mắt cứ trào ra. Cảm xúc đầu tiên của ông cùng đồng đội khi chiến dịch toàn thắng là niềm nuối tiếc và xúc động vì Bác Hồ đã ra đi.
Vị trung tướng nói với tôi rằng, những người được sống trong giây phút lịch sử trọng đại ấy của dân tộc càng cảm nhận được hết ý nghĩa của bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Những giọt nước mắt lại tuôn rơi khi nhớ đến các đồng đội đã hy sinh, không có mặt trong ngày toàn thắng. Trong những người đồng đội ấy, có Lê Đỗ Khôi, chính trị viên Tiểu đoàn 5 Đại đoàn 312 - người anh cả của ông, đã hy sinh tại chiến trường Điện Biên Phủ trước giờ toàn thắng chỉ mấy tiếng đồng hồ.
Niềm vui và nước mắt trước phút giây toàn thắng
Sau này, có một nhà văn, nhà báo người Mỹ, bà Lady Borton tìm đến phỏng vấn ông. Bà là một trong những người tham gia vào hàng ngũ các thanh niên, sinh viên Mỹ phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Ngày chiến thắng 30/4/1975, bà có mặt ở Hà Nội. Bà có nhiều công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh, về văn hóa Việt Nam.
Gặp Trung tướng Phạm Hồng Cư, bà hỏi: “Tại sao Việt Nam là một dân tộc nhỏ lại làm nên một câu chuyện thần kỳ là đánh thắng hai cường quốc đế quốc lớn là Pháp và Mỹ?”. Vị trung tướng thay vì trả lời, đã kể cho bà nghe một câu của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp trong hồi ức của Đại tướng: "Nền văn hóa Việt Nam, đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, của Hồ Chí Minh, học thuyết quân sự Việt Nam độc đáo, sáng tạo, không ngừng phát triển là sức mạnh của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh".
Câu chuyện về cuộc trường chinh 10.000 ngày được kể trong gần một giờ đồng hồ. Những người như ông, những người đã từng trải qua những năm tháng chiến đấu anh dũng của dân tộc là người cảm nhận hết độ dài và ý nghĩa của nó. Thiên anh hùng ca thắng thực dân Pháp, thắng đế quốc Mỹ vang vọng mãi mãi trong lòng dân tộc Việt Nam và trong tâm trí của nhân loại tiến bộ trên thế giới. Đó là điều mà ông, người lính già muốn truyền lại cho hôm nay./.

