Người bạn đường lặng lẽ của các chuyến đi
NXB Kim Đồng vừa cho ra mắt tủ sách Du ký, mở đầu với 3 cuốn của nhà báo Phan Quang: Thơ thẩn Paris, Bên mộ vua Tần và Chia tay trên sông
Trong thế giới ngày nay, du lịch ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu của người lao động. Những khoảnh khắc ngắn hoặc dài, tạm rời khung cảnh quá quen thuộc ngày thường, cùng người thân hay bạn bè tìm kiếm ở các chân trời mới những giờ phút sảng khoái về thể chất cũng như thư thái của tâm hồn, tái tạo sức lao động, bồi bổ kiến thức. Đón trước nhu cầu đang tăng, nhà xuất bản Kim Đồng vừa cho ra mắt Tủ sách Du ký, mở đầu với 3 cuốn của nhà báo, nhà văn Phan Quang: Thơ thẩn Paris, Bên mộ vua Tần và Chia tay trên sông.
![]() |
Du ký vốn là một thể loại đặc biệt giao thoa giữa báo chí và văn học, thường được viết ra sau những chuyến đi xa, nó “luôn mang lại cho độc giả nhiều cảm hứng, khơi gợi niềm ham thích và ước mơ khám phá những miền đất lạ”. Ham thích và ước mơ ấy là của tất cả mọi người, dĩ nhiên náo nức nhất là đối với tuổi thiếu niên và những chàng trai cô gái đã có hành trang để bước vào đời - nói cách khác đối tượng phục vụ của Du ký là rất rộng rãi. Chính vì vậy, ở phương Tây, không ít cuốn du ký được xếp vào loại sách ăn khách nhất, best-seller.
Tác giả Phan Quang là cây bút khá quen thuộc với thể loại du ký. Do điều kiện công tác, ông có nhiều dịp ra nước ngoài, không phải với tư cách người du lịch, mà kết hợp công việc khác. Tuy vậy, do máu mê nghề nghiệp, ông khát khao tìm hiểu những nền văn hóa đôi khi lạ lẫm với ta, qua sinh hoạt của người dân địa phương, phong tục, tập quán, lễ hội, ẩm thực… cũng như cảnh quan và các công trình kiến trúc của họ, thể hiện bằng những nét riêng trong văn hóa của mỗi cộng đồng, hài hòa trong những cái chung nhất của con người.
Đối với người viết du ký, ghi chép từ trực quan là thiết yếu song chỉ có chừng ấy thôi, chưa đủ đi sâu vào lòng người đọc. Qua các bài viết của Phan Quang, bạn đọc dễ nhận thấy tác giả đã công phu nghiên cứu lịch sử, văn hóa, xã hội… những nơi được đặt chân tới, có khi ông lui tới nhiều lần, cũng có khi mỗi một lần thôi, rồi không bao giờ có dịp trở lại bởi quá xa xôi cách trở.
Như nhà phê bính Ngô Thảo có lần viết khi đọc một số du ký của Phan Quang trước đây, “là một người từng trải, quảng giao, biết nhiều ngoại ngữ, do yêu cầu nghề nghiệp, đi nhiều, quen rộng (tất nhiên còn nhiều người đi nhiều, biết rộng hơn ông), nhưng bằng phương tiện nghiệp vụ của mình, đã ghi dấu trong từng bài viết, thì chỉ có cái máu báo chí mới làm được, là nhà báo bẩm sinh mới có được… Ở những tác phẩm hay, người đọc dễ quên phương tiện ngôn từ, thể loại mà cảm xúc trực tiếp với nội dung đời sống. Bên trong nhà báo Phan Quang tự tin và xông xáo luôn thấp thoáng bóng dáng của một nhà văn từng trải, khiêm nhường” (Trích từ Thao thức với phần đời chiến trận, phê bình văn học, Nxb Quân đội nhân dân). Nhà văn lão thành Tô Hoài lại cảm nhận theo phong cách của ông: “…Tôi đã ngốn hết Thơ thẩn Paris. Tôi thấy một Phan Quang nhà văn tâm hồn và văn phong chan hòa ruột thịt với phong cách nhà báo. Phải uyên thâm, lão luyện nghề báo, nghề văn đến mức thế nào mới sáng tạo được những nét riêng từ cái nghĩ, cái chữ như thế được” (Báo Văn nghệ).
Đọc du ký của Phan Quang viết về Trung Quốc, giáo sư viện sĩ Hoàng Trinh nhận xét: “Anh có dịp thăm nhiều nơi, hiểu biết khá sâu văn hóa Trung Hoa, nhiều lần đi lại trên Vạn lý trường thành, để cuối cùng có mỗi một bài về trường thành sau những gì bao nhiêu nhà biên sử, nhà văn cổ kim đông tây đã viết, đã nói về kỳ quan này… Tần Thủy Hoàng được Phan Quang nhắc đến như một “di chỉ”, khiến anh hồi lâu phải “trầm ngâm bên mộ vua Tần”. Tối rất thích đọc những trang viết sâu lắng và nên thơ, như những đoạn nói về khói Cam Tuyền và bóng nguyệt Trường thành, về Trường An và Tây An của Trung Quốc ngàn xưa trong bối cảnh… kinh tế thị trường” (Báo Nhân dân).
Ba cuốn sách mở đầu tủ sách Du ký của Nhà xuất bản Kim Đồng (tổng cộng dày 720 trang khổ 14x 22,5cm) gồm toàn những bút ký ngắn được tuyển chọn của tác giả viết khoảng mươi năm lại đây, mỗi cuốn tập trung vào một địa bàn nhất định. Tuy nhiên, nếu Thơ thẩn Paris viết về Pháp và không gian của Bên mộ vua Tần chủ yếu ở Trung Quốc, hai nền văn hóa đồ sộ, thì Chia tay trên sông dành cho các vùng miền khác, mỗi nơi chỉ một vài bài, từ Ecuador dưới xích đạo lục địa Mỹ châu đến Otraylia ở cực Đông Nam bán cầu, qua nắng thu vàng và tuyết trắng nước Nga, vĩ tuyến 38 chia cắt hai miền Nam Bắc Triều Tiên…
Qua tập đầu, tác giả không chỉ dừng lại để thơ thẩn ở thủ đô nước Pháp cho dù đây là một đề tài bất tận, mà từng về miền tây bắc của nước ấy cùng khách hành hương chiêm ngưỡng ngọn núi thiêng mang tên Thánh Michel (tr. 96), sang bờ đông của Đại Tây dương thăm xưởng đóng tàu du lịch và quê hương nhà văn viết truyện phiêu lưu viễn tưởng Jules Verne (tr. 83), xuống miền nam thăm thú thành phố Montauban gần ngàn năm tuổi, nhân đấy không thể không thăm Nhà bảo tàng mang tên họa sĩ Ingres, đứa con của thành phố, một nhà mỹ thuật thành danh mà vẫn lưu lại cho ngôn ngữ “để lại trần gian một cụm từ” (tr. 151). Ông lại sang tận nước Bỉ, thăm chiến trường cũ Waterloo nổi tiếng thế giới, nơi đại quân của hoàng đế Napoléon giằng co với đại quân của liên minh Anh-Phổ do quận công Wellington chỉ huy, trong một trận đánh quyết liệt làm hơn 20 000 quân của hai bên bỏ mình tại chiến trận, và cuối cùng quân Pháp thua do đối phương kịp thời có quân tăng viện trong khi đội quân dự bị của Pháp chậm chân hơn. Thảm bại Waterloo làm “tan tành đế chế Napoléon”, khiến vị hoàng đế đầy quyền lực phải chịu phế truất và lưu đày đến một đảo vắng để chờ kết thúc một cuộc đời oanh liệt. Trên di tích chiến trường xưa của người khác, tác giả tự hào nhắc lại lời một nhà văn Pháp là Jules Roy than thở sau khi quân đội xâm lược bị quân đội nhân dân Việt Nam đánh cho liễng xiễng tại thung lũng Mường Thanh: “Waterloo cũng không làm chấn động thế giới bằng (thất bại của quân đội viễn chinh Pháp tại) Điện Biên Phủ” (tr. 210)…
Thăm Trung Quốc cũng vậy. Ông không chỉ đưa độc giả cùng đến Vạn lý trường thành để cảm hoài về tiếng trống Tràng thành và thức mây Cam tuyền (trong Chinh phụ ngâm của ta), suy ngẫm về những tương đồng và dị biệt giữa hai nền văn hóa Trung Hoa và Việt Nam (tr. 11). Ông lên miền tây bắc thăm cố đô Tràng An, để “trầm ngâm bên mộ vua Tần” (tr. 151). Chơi thuyền trên “Tây hồ mùa thu” (tr. 36), ông gợi lại thơ các thi hào Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha thời xưa, rồi liên tưởng đến sự nghiệp và số phận các văn hào cùng quê ở đất Tây Hồ thời nay: Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Phùng Tuyết Phong… Ông thăm thú các thành phố nổi tiếng hào hoa và ăn chơi đất Giang Nam như Tô Châu, Hàng Châu: “trên trời có thiên đàng, dưới đất có Tô, Hàng” (tr. 61). Ông ngược lên vùng Tây Nam, ở thượng nguồn sông Dương Tử, nơi tướng Tưởng Giới Thạch từng đóng đại bản doanh thời chiến tranh chống Nhật, rồi lại xuôi hạ lưu trường giang thăm thành phố Thượng Hải, một mô hình của Trung Hoa thời toàn cầu hóa, và suy nghĩ về cái “tín hiệu” mà thành phố hiện đại này phát ra thế giới (tr. 192)…
Tác giả đưa độc giả đến thưởng thức chén trà theo nghi thức Trà đạo tại cố đô Kyoto nước Nhật (tr. 180, Bên mộ vua Tần), trò chuyện cùng các nàng geisha có một không hai, hết sức được ưa chuộng thời nào, mà nay cả nước Nhật chỉ còn lại khoảng 150 nàng (tr. 188). Sau khi thăm Nhà lưu niệm nhà văn Mỹ Mark Twain, ông chia tay bạn bè mới quen trên con sông Mississippi hùng vĩ (tr. 23). Qua hai lần thăm giới tuyến chia cắt bán đảo Triều Tiên, một lần đến từ phía Bắc, một lần từ hướng Nam, tác giả hồ hởi ngẫm ngợi, trong ba nước bị chia cắt sau thế giới thứ hai: Việt Nam, Triều Tiên và Đức, cuối cùng Việt Nam là đã hoàn thành trọn vện sự nghiệp thống nhất nước nhà đúng như ước vọng của nhân dân, cho dù phải trả giá bằng bao hy sinh, tổn thất (tr. 130). Từ đất nước có nền kinh tế phát triển Ostraylia, xưa kia vốn là “một xứ lưu đày thường phạm” của đế chế Anh, ông mượn lời một chị kiều bào nói lên suy nghĩ của chính mình: “Đi đâu thì đi, sống ở đâu thì sống, chứ một năm mười hai tháng, một tháng ba mươi ngày, làm sao chúng tôi quên được Hà Nội, làm sao chúng tôi không nhớ đến đất nước mình, hở anh (tr. 234).
Đúng như cảm nhận của nhà văn Đoàn Minh Tuấn khi đọc du ký của ông: “Phan Quang cho tôi một viễn vọng kính để nhìn tỏa ra các phương trời xa lạ và mới mẻ. Bao nhiêu phong tục tập quán mình chưa được biết, bao nhiêu niềm vui nỗi nhớ đầy ắp những trang văn huyền bí, mà tác giả cố công khám phá, quan sát, ghi chép để rồi miệt mài đêm đêm vẽ nên một cách chân thật bầu trời, mặt biển đâu đó…” (Báo Nhà báo và Công luận).
Bộ sách được Nhà xuất bản Kim Đồng biên tập cẩn thận và trình bày hết sức công phu. Một khối lượng khá lớn bức ảnh đẹp được người trình bày sách chọn lọc và cài vào giữa các trang, sát với nội dung, không chỉ góp phần làm tăng thêm sức thuyết phục của lời văn mà còn, và nhất là, đầy gợi cảm. Có thể nói mấy cuốn đầu trong Tủ sách Du Ký của Nhà xuất bản Kim Đồng là những sản phẩm văn hóa đích thực, là người bạn đồng hành lặng lẽ của du khách qua những chuyến đi. Quả vậy, còn gì thú vị hơn đối với khách lữ hành trước khi đến “điểm hẹn”, thông qua sách báo tự trang bị thêm cho mình một số kiến văn cần thiết giúp hiểu sâu hơn những gì mắt sẽ thấy tai sẽ nghe./.
