Người giữ “hồn” Mường
Suốt mấy chục năm qua, ông Hà Minh Du không quản tuổi cao sức yếu đã lặn lội đi khắp xứ Mường để nghiên cứu, tìm hiểu về những phong tục tập quán của người Mường. Ông còn là người sáng tạo ra bộ chữ Mường.
Nếu như công trình này được đưa vào ứng dụng, thì đây là lần đầu tiên con em người Mường sẽ được học chữ của dân tộc mình.
Lưu giữ “hồn” Mường
Ngôi nhà nhỏ của ông Du nằm cuối thôn Quan Trì, xã Yên Lâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Nghe nói có khách đến chơi, ông ra tận ngoài sân đón. Dáng ông cao gầy, mái tóc đã bạc trắng, riêng có đôi mắt còn tinh anh lắm! Khi đã yên vị, tôi mới có dịp để ý ngôi nhà ngói ba gian của ông rất đơn sơ. Chiếc giường gỗ cũ, bàn ghế đã mòn vẹt. Trên tường nhà treo rất nhiều huân chương, huy chương, giấy khen… Giáp gian buồng có một tủ sách đồ sộ. Lạ là, phần lớn những cuốn sách đó chưa một lần xuất bản. “Đó là kho báu của đời tôi đấy”, vừa mở cánh cửa tủ lấy ra vài cuốn sách, ông Du vừa khoe.
![]() |
| Ông Du đang chạy đua với thời gian để hoàn thành tâm nguyện của đời mình |
Theo ông Du, đây là tập giới thiệu cho cuốn thứ tư Thiên tình ca trai gái Mường. Ông bảo, bài xường này hay lắm. Trai gái hát với nhau bốn, năm đêm mới hết. Thiên tình ca trai gái Mường này, trước kia, ông Hoàng Anh Nhân (một nhà nghiên cứu về văn hoá Mường) cũng có nhắc đến một vài lần, nhưng mới điểm thôi. Chưa ai biết trọn vẹn cả. Ông mê lắm. Nhà ông, từ đời cố đến ông nội, bà nội, bố, mẹ, các bà cô đều thuộc. Ông thuộc được là nhờ được truyền miệng từ đời này qua đời khác trong gia đình. Tôi hỏi, ông có hát được không? Được chứ. Thế là ông hát. Ông hát say sưa bằng tiếng Mường.
|
Suốt nửa thế kỷ qua, ngoài thời gian dạy học, ông Hà Minh Du lang thang khắp xứ Thanh, xứ Mường để được nghe, được cảm, được thấy… Ông bảo: “Chính bà con người Mường đã thôi thúc tôi đi. Ngôn ngữ Mường đẹp lắm, giàu có lắm. Nó là văn hoá, là hồn Mường. Đơn giản là tôi muốn giữ nó, giữ hồn Mường”. |
Đặc biệt, ông Hà Minh Du đã biên soạn xong một bộ chữ của riêng người Mường. Để có được những luận cứ khoa học, ông cũng lập luận phân chia chương hồi, rồi đưa ra những lý luận khoa học xác đáng. Đây là công trình để đời của ông. Sau bao nhiêu năm rong ruổi, điền dã, lang bạt kỳ hồ khắp xứ Mường, ông mới hoàn thành được cuốn sách này. Tất cả những tâm huyết, những công trình quý giá đó vẫn còn trên bản thảo.
Ông Du cho rằng, thuở trước có một số người Mường biết tiếng Hán đã tạo ra chữ Nôm Mường. Nhưng do trước đây, 95% dân số Mường không biết chữ nên loại chữ viết này không tồn tại. Người Mường ở vùng Hoà Bình từng phiên âm ra tiếng mẹ đẻ, song vùng này phiên âm ra, vùng kia không đọc nổi. Ngoài ra, ông Du còn phối hợp với ông Cao Sơn Hải viết cuốn Luật tục Mường Thanh Hoá dày gần 300 trang, do NXB Văn hoá Dân tộc ấn hành. Ông Du bộc bạch: “Đi đâu tôi cũng muốn tìm hiểu về gốc gác của dân tộc mình, tìm hiểu “linh hồn” của dân tộc Mường. Đặc thù khẳng định sự tồn tại hay suy vong đối với một dân tộc chính là tiếng nói và chữ viết. Mất đi những yếu tố quan trọng này thì dân tộc cũng sẽ không còn”.
Ông dự định sẽ làm hoàn chỉnh từng quyển. Nếu mang tất cả bản thảo của ông để in thành sách, tôi nhẩm tính cũng đến cả triệu trang sách. Ngoài ra còn chưa kể đến tranh minh hoạ cho mỗi từ, mỗi đoạn thì số lượng đồ sộ lắm! Càng nghe ông giới thiệu về các công trình của mình, tôi càng khâm phục nghị lực làm việc của ông suốt nửa thế kỷ qua. Ngoài thời gian dạy học, ông lang thang khắp xứ Thanh, xứ Mường để được nghe, được cảm, được thấy… rồi ông lặng lẽ gom góp chúng lại. “Nghị lực nào thôi thúc ông làm?”, tôi hỏi. Cẩn thận xếp lại từng tập bản thảo, bất ngờ ông đưa cho tôi xem cuốn Bộ chữ Mường. Ông bảo: “Chính bà con người Mường đã thôi thúc tôi đi. Ngôn ngữ Mường đẹp lắm, giàu có lắm. Nó là văn hoá, là hồn Mường. Đơn giản là tôi muốn giữ nó, giữ hồn Mường”.
Trước đây chưa có máy móc, mọi thứ sưu tầm được ông đều tự viết tay. Cách đây ba năm, người con trai ở nước ngoài có gửi về cho ông một bộ máy vi tính. Thế là ông lại phải đi học sử dụng máy. Sau mấy chục năm đi gõ đầu trẻ, giờ phải ngồi nghe lớp trẻ giảng dạy về tin học, ông không thích lắm. Có những hôm, ông đã định bỏ quách lớp học cho rồi. “Gớm! Cái món này lúc đầu học chân tay cứ mỏi nhừ. Có những lần chúng đi vắng, mình còn chẳng biết bật cái nút khởi động ở chỗ nào”, ông tâm sự. Ngày này qua tháng khác, ông cũng học xong chương trình soạn thảo văn bản và cách vận hành máy tính. Từ ngày có máy tính, công việc của ông tiến triển nhanh hơn. Ông say mê làm việc đến quên ăn, quên ngủ. Các tệp tin cứ dần đầy lên trong ổ cứng máy tính.
Để gió cuốn đi…
Năm nay, ông Hà Minh Du vừa tròn 80 xuân xanh. Ông cũng có quãng đời trai trẻ đầy tự hào. 16 tuổi, ông nhập ngũ, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông chuyển công tác về Ban Chỉ huy Trung ương đoàn TNXP. Năm 1956, Hà Minh Du được cử đi học tại Đại học Sư phạm Hà Nội, rồi ông về công tác ở Ty Giáo dục Thanh Hoá cũ. Năm 1986, ông nghỉ hưu. Đây là quãng thời gian ông có điều kiện đi nhiều nhất để thoả chí ước mơ soạn ra một bộ chữ Mường khá hoàn chỉnh.
Tuổi cao sức yếu, bệnh tật hành hạ, nhưng chưa hôm nào ông nghỉ làm. Dù mệt đến đâu, ông cũng cố gượng dậy hiệu đính lại những tập bản thảo mà ông đã dày công sưu tầm. Ông đang chạy đua với thời gian để hoàn thành tâm nguyện của đời mình là sớm cho in được những công trình nghiên cứu, sưu tầm về văn hoá Mường.
![]() |
| Nghề dệt thổ cẩm đã gắn bó máu thịt với đời sống của người Mường từ bao đời nay. |
Đến nay, các tập bản thảo của ông đã cơ bản hoàn thành. Vậy mà người thầy giáo già lại đang lo lắng, không biết có kịp in chúng thành sách nữa hay không, vì ông đã ở bên kia con dốc của cuộc đời rồi. Hơn nữa, kinh phí lại hạn hẹp, nên ông chưa biết bấu víu vào đâu. Ông đang dự tính sẽ dùng số tiền lương ít ỏi của mình để in chúng. Bất chợt ông hỏi tôi: “In một cuốn sách dày 500 trang hết nhiều tiền không chú?”. “Thưa bác, cũng phải hết vài chục triệu đồng”, nghe tôi nói vậy, ông bỗng trầm ngâm.
Đang nhâm nhi chén trà, ông lại lên cơn ho dữ dội. Ông bảo: “Mấy năm nay, căn bệnh gút hành hạ khiến tôi ăn không ngon ngủ không yên”. Vợ ông mang vào một cốc nước và vài viên thuốc tây. Đôi bàn tay gầy guộc run run của ông lại đón nhận những thứ đó rất nâng niu. Một tay đưa thuốc cho ông uống, một tay bà lại xoa nhẹ vào lưng ông: “Bác sĩ dặn ông phải uống thuốc cho đúng giờ thì bệnh tình mới khỏi. Già rồi. Ông làm vừa phải thôi, cho con cháu được nhờ… ”. Uống xong mấy viên thuốc, ông Du nhìn người vợ với ánh mắt đầy trìu mến. Ông tâm sự: “Không có bà ấy chắc tôi không sống được đến ngày hôm nay. Nửa thế kỷ nợ duyên nhau mà chưa một lần bà ấy làm phật ý tôi”.
Cứ nhìn cái cách ông bà chăm nom nhau, lớp trẻ chúng tôi còn phải học nhiều. Ông bà cũng có mấy mặt con, nhưng mọi việc chăm sóc ông, bà đều tự làm hết. Tôi nghĩ, đó mới chính là động lực để thổi bùng những đam mê của ông trong suốt hành trình sưu tầm và lưu giữ “kho báu” đồ sộ về văn hóa Mường./.

