Sự linh diệu của thi ca
Nghe cái tên có vẻ to tát nhỉ? Nhưng câu chuyện lại vô cùng giản dị.
Trong bếp núc sáng tạo thi ca, nhiều khi có những khoảnh khắc rất đặc biệt. Đặc biệt đến nỗi, người ta không còn biết lý giải như thế nào, đành đẩy nó vào cõi mông lung huyền bí, là xứ sở trị vì của các đấng thần linh và ma quỷ.
Thực ra, làm thơ cũng chỉ là một việc bình thường. Nó bình thường như anh thợ đào than, bác nông dân cuốc đất hay ông thợ môi trường móc cống…
Vậy thôi.
Nếu có một chút khác chăng, là khác ở chỗ này: Có người rắp tâm làm thi sĩ, nhưng rồi chẳng bao giờ đến được cái đích mình cần đến. Thậm chí càng đi càng thấy xa. Và rồi cứ đi, đi mãi đến mất hút trên con đường vô tăm tích. Ngược lại, có người chỉ dạo chơi vu vơ, dạo chơi không mục đích, mà rồi ngay từ bước chân đầu tiên đã tới thẳng ngôi đền thi ca và trụ lại làm bảng vàng bia đá.
Đó là trường hợp những thi sĩ mà cả đời sáng tạo thi ca, có khi chỉ viết đúng… một bài.
Nhìn ra thế giới rộng lớn, ở một xứ sở thơ ca rực rỡ nhất nhân loại, là triều đại nhà Đường Trung Quốc. Thơ Đường là thơ của muôn đời. Dù những bài thơ ấy sinh ra giữa thời loạn lạc, nghèo đói và tăm tối. Đời sau, con cháu có thể vượt cha ông rất xa trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là công nghệ và khoa học kỹ thuật. Nhưng với văn chương thì không. Văn chương hoàn toàn không có quy luật ấy. Không ai đem bút lông bì với vi tính. Nhưng những bài thơ viết bằng vi tính của con cháu thời văn minh hiện đại lại không thể sánh được với những bài thơ mà các cụ tiên tổ viết bằng bút lông, bút chì, bút sắt. Với văn chương, nhiều khi càng hiện đại lại càng tụt hậu.
![]() |
|
Cố vấn Mỹ trong trận Đồng Xoài (12/6/1965) |
Nói đến thơ Đường ở thời hoàng kim, rực rỡ nhất của nó, thường người ta hay nhớ đến Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Đây là ba ngọn núi thơ lớn nhất đời Đường. Nhưng nếu chọn một bài thơ đặc sắc nhất đời Đường và chỉ chọn một bài thơ thôi thì cả ba ông khổng lồ kia đều không có. Vinh quang độc đắc ấy lại thuộc về những nhà thơ chỉ có… một bài.
ở ta, cũng có những thi sĩ vụt sáng như một ngôi sao băng rồi mất hút không để lại dấu vết. Đó là Hồng Nguyên với “Nhớ”, Vũ Đình Liên với “Ông đồ”, Hoàng Lộc với “Viếng bạn”, T.T.K.H. với “Hai sắc hoa Ti gôn”. Trong đó “Nhớ” và “Ông đồ” là hai kiệt tác.
Đó là những thi sĩ chỉ viết… một bài.
Chỉ có một bài, vỏn vẹn một dúm chữ nhưng tên tuổi của người sáng tạo ra nó có thể xếp bên cạnh những cái tên sáng chói bất tử với “Dòng dòng châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”.
Đó là những tinh hoa của dân tộc chúng ta.
Và như thế, trong sáng tạo thi ca, không thể lấy số lượng thay cho chất lượng. Một vạn bài thơ trung bình cộng lại cũng chỉ là một vạn sản phẩm trung bình. Sự nhạt nhẽo lại còn tăng lên gấp bội. Không thể phù phép, “đúc” vô vàn sự nhạt nhẽo kia để thành một… giọt thơ hay.
Nhưng chỉ một bài thơ hay thôi, cũng đủ làm nên một tên tuổi, một sự nghiệp lớn.
Trong số những ông bạn vong niên của tôi, mà tôi vô cùng quý trọng, cũng có một thi sĩ trong một khoảnh khắc. Và anh cũng chỉ ngẫu hứng viết duy nhất có... một bài thơ. Rồi sau đó bỏ thơ đi làm chính trị.
Đó là Trần Thế Vượng.
Tôi không có ý so sánh Trần Thế Vượng với các bậc tiền bối. Không so được. Nhìn ở góc độ nào cũng không so được. Thêm nữa, anh cũng đâu có ý định làm thi sĩ.
Anh vốn là người lính, từng trúng tuyển Đại học Sư phạm. Nhưng cũng như hàng ngàn, hàng vạn thanh niên thời ấy, anh không vào trường đại học, mà lại ra chiến trường. Trần Thế Vượng là lính Sư đoàn 324 từng có những năm tháng chiến đấu trên chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa”. Anh đã hai lần bị thương năm 1967 và trong chiến dịch Mậu Thân 1968, được đơn vị gửi lại nhà dân. Rồi dân đùm bọc, che chở trong những căn hầm bí mật, tránh được những trận giặc càn, lùng sục của địch. Ra Bắc, Trần Thế Vượng tiếp tục học Đại học Tổng hợp. Trần Thế Vượng nhiều năm công tác ở Quốc hội, là Đại biếu Quốc hội nhiều khóa, từng làm Phó chủ nhiệm ủy ban Pháp luật của Quốc hội, rồi ủy viên ủy ban Thường vụ Quốc hội kiêm Trưởng ban Dân nguyện.
Không ai biết ông Trưởng ban Dân nguyện của ủy ban Thường vụ Quốc hội này từng có khoảnh khắc thành thi sĩ. Trong giây khắc hiếm hoi ấy, anh đã kịp thời ghi lại một góc chiến trường khốc liệt nhưng trong thơ lại không có khói bom, thuốc đạn. Cũng không có bóng dáng oai hùng của các chiến sĩ giải phóng xông lên tiêu diệt quân thù, như rất nhiều những tác phẩm cùng thời. Trần Thế Vượng chỉ đặc tả kẻ bại trận. Một người lính Mỹ đã chết. Nhưng lại chết ngồi. Chết mà vẫn không yên, hay ít ra cũng không có một giây phút thanh thản. Từ đó khái quát tâm thế thảm hại của nước Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược, khẳng định vóc dáng Việt Nam.
Bài thơ "Về cái chết của người lính Mỹ" rất giản dị, sáng tỏ, với cấu tứ mạch lạc, chặt chẽ này ra đời ngay từ giữa chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa vào năm 1969… Nhưng mãi đến năm 2000, nó mới xuất hiện trên Báo nhân Dân với bút danh Trần Phương Nam. Bây giờ, chúng ta lại đọc nó trong thời bình, với một tâm thế khác, một “bầu khí quyển” hoàn toàn khác nhưng không phải vì thế mà nó mất đi âm hưởng và dư vị. Sự xuất hiện của nó lại làm sống lại một thời đại hào hùng và bi tráng đã qua.
Đây là cố gắng rất đáng được ghi nhận của Trần Thế Vượng. Dù anh không phải thi sĩ./.
