Biến điều không thể thành có thể
Nhiều người cho rằng lúa không thể sống được với nguồn nước đá vôi. Rồi việc thuyết phục bà con người Rục trồng lúa nước cũng không phải dễ. Nhưng những người lính biên phòng đã làm được điều tưởng chừng khó có thể thành hiện thực ấy.
Cách đây chưa lâu, bản làng của người Rục (Rục Làn, xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, Quảng Bình) hoang vắng, chìm trong cảnh đói cơm rách áo, tất cả nguồn sống của đồng bào đều dựa vào rừng và sự trợ cấp của Nhà nước... Trăn trở nhiều với cái đói, cái nghèo ở đây những người lính biên phòng Quảng Bình tìm mọi cách để cuộc sống của bà con ổn định. Và sáng kiến trồng lúa nước đã ra đời.
“Làm lúa nước” rất đơn giản ở tất cả vùng quê Việt Nam, nhưng những người lính biên phòng Quảng Bình cực kỳ vất vả khi cụ thể hóa ba từ “làm lúa nước” dưới những dãy núi đá vôi cao chót vót. Qua bao gian nan, đến nay, điều tưởng chừng không thể đã trở thành có thể.
Sự thành công của 2 vụ gặt trong năm 2011 trên cánh đồng lúa nước Rục Làn với diện tích gần 10ha do bộ đội biên phòng Quảng Bình làm chủ đầu tư và thực hiện đã tạo niềm tin vững chắc trong cách nghĩ, cách làm của người dân. Ngày 1/3 vừa qua, BĐBP Quảng Bình đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng 3 và là đơn vị duy nhất của BĐBP Việt Nam được nhận cờ thi đua xuất sắc của Chính phủ.
Phóng viên Đài TNVN đã có cuộc trao đổi với Đại tá Nguyễn Văn Phúc – Chỉ huy trưởng BĐBP Quảng Bình.
![]() |
Đại tá Nguyễn Văn Phúc: Đồng bào trên tuyến biên giới tỉnh Quảng bình gặp rất nhiều khó khăn nhất là trong vấn đề sản xuất nông nghiệp bởi vì đặc điểm trên tuyến biên giới là đất để trồng cây lương thực rất hạn hẹp nhất là đất để trồng lúa nước. Phong tục tập quán của bà con còn lạc hậu phần lớn là sản xuất trên nương rẫy, hái lượm săn bắt các sản phẩm trong rừng do đó đời sống kinh tế của đồng bào rất thấp.
Từ những đặc điểm như vậy cho nên tôi có cái suy nghĩ là cùng các cấp các ngành nghiên cứu để tìm ra các phương án sản xuất tốt nhất cho đồng bào. Một trong các việc làm đấy là nghiên cứu các mô hình sản xuất lúa nước. Năm 2009, chúng tôi làm lúa nước ở bản Tân Ly cho đồng bào Vân Kiều. Sau khi thành công ở công trình này rồi thì chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và làm công trình ruộng lúa nước cho đồng bào Rục ở Rục Làn - Một dân tộc mà cách đây hơn 50 năm bộ đội biên phòng đã tìm thấy họ trong hang đá rồi đưa họ về sinh sống với cộng đồng.
Sau hơn 1 năm triển khai thi công rất cật lực thì chúng tôi đã hoàn thành được công trình và trong năm 2011 chúng tôi đã tổ chức cho nhân dân sản xuất 2 vụ lúa đạt kết quả tương đối tốt . Đến nay đã bắt tay vào làm vụ 3. Thông tin mới nhất mà tôi mới nhận được hôm qua là mạ đã lên xanh rồi.
PV: Vậy cùng trồng lúa nước thì 2 mô hình ở Tân Ly và Rục Làn có điểm gì giống và khác nhau ?
Đại tá Nguyễn Văn Phúc: Các mô hình trồng lúa nước thì đều có chung một yếu tố cần thiết đó là tìm ra nguồn đất phù hợp để cây lúa phát triển, đồng thời phải có lưu lượng nước đảm bảo quanh năm cho nhân dân sản xuất. Nhưng mà cáikhác nhau là ở công trình lúa nước ruộng Tân ly thì trước đây đã có sự đầu tư nhưng sau đó bị hư hỏng và không tổ chức lại được cho dân nên có một quá trình không sản xuất. Khi chúng tôi phát hiện được công trình đó thì chúng tôi cho củng cố lại và tổ chức cho dân sản xuất. Nói thì đơn giản nhưng lúc đó BĐBP phải lập lán trại ngay tại ruộng để phát cây, đào gốc cây rừng, nhặt hết lớp đá cuội trên mặt, đắp bờ, đào mương dẫn nước... Gieo xong giống, tôi cho một tổ bộ đội chuyên trách “cắm chốt” tại ruộng chăm sóc lúa. Thu hoạch vụ đầu tiên ở Tân Ly đạt sản lượng gần 4 tấn/ha.
Đến bây giờ, duy trì cho nhân dân sản xuất liên tục được 3 năm rồi. Còn đối với công trình lúa nước Rục Làn thì đây là công trình mới hoàn toàn. Trước đây là đồi lúp xúp thoai thoải cây cối bụi rậm, nguồn nước thì cách xa gần 3km, tất cả mọi cái đều mới khai sinh ra cả. Chúng tôi lại không phải cán bộ nông nghiệp cho nên là khi hình thành cái dự án này cũng rất băn khoăn và lo lắng. Do đó phải mời các đồng chí kĩ sư nông nghiệp đi cùng để khảo sát và sau đó các đồng chí giúp cho chúng tôi về mặt chuyên môn kĩ thuật. Một cái khác nữa ở vùng này đó là vùng núi đá vôi. Có nhiều người cho rằng nguồn nước đá vôi thì lúa không thể sống được. Và đặc biệt nữa là lực lượng sản xuất ở đây là bà con dân tộc Rục, một dân tộc mới về với cộng đồng hơn 50 năm, họ chưa quen với vấn đề sản xuất nông nghiệp nhất là trồng lúa nước do đó khi vận động họ tham gia lao động và làm lúa là rất khó khăn.
PV: Để mô hình lúa nước ở Rục Làn thành công, ông không chỉ chỉ đạo trên văn bản mà còn trực tiếp đi xuống đó để khảo sát thực tế , từ tìm nguồn nước đến kỹ thuật trồng lúa?
Đại tá Nguyễn Văn Phúc: (Cười) Vì dự án này vô cùng quan trọng đối với chúng tôi không chỉ riêng mục đích xóa đói giảm nghèo nên tôi phải trực tiếp cùng với anh em trong bộ chỉ huy, đơn vị đi tìm đất và tìm nguồn nước. Tìm được những cái đó rồi phải trực tiếp cùng với các cơ quan tư vấn lập hồ sơ thiết kế của dự án. Triển khai các khâu. Từ gieo hạt cho đến thu hoạch là cả một quãng đường dài mà cán bộ chiến sỹ đã phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, gian nan vô cùng (cười).
Thực ra tôi cũng không có kinh nghiệm trong việc này, chỉ có siêng suy nghĩ và siêng tìm tòi học hỏi và thậm chí có những lúc phải đi nghiên cứu đồng lúa khác về để chỉ đạo cho bộ đội của mình giúp dân trong việc sản xuất. mà không chỉ tôi, các đồng chí lãnh đạo tỉnh quảng Bình cũng rất quan tâm đến công trình này, các đồng chí ấy cũng đã từng xuống gieo lúa, gặt lúa cùng với nhân dân ở dưới đó.
PV: Điều Chỉ huy trưởng lo lắng nhất khi bắt đầu triển khai trồng lúa nước ở Rục làn?
Đại tá Nguyễn Văn Phúc (trầm ngâm): Tôi lo nhất khi triển khai công trình thì liệu mặt bằng ấy có làm ra được ruộng hay không và khi làm thành ruộng được rồi thì nước nó có giữ được không hay là nước vào rồi nước lại đi. Và tôi còn lo nữa là đến mùa hè liệu có nước để đảm bảo cho vấn đề sản xuất hay không. Rồi một cái lo nữa đấy là dân họ có tham gia lao động cho hay không. Nhưng với phương châm, cầm tay chỉ việc, BĐBP vừa làm vừa hướng dẫn đồng bào từng động tác làm đất, đắp bờ, đào kênh dẫn nước. 10ha đã gieo xong giống. Trời rét đậm, lúa chết sạch, bộ đội tiếp tục cày bừa làm lại từ đầu. Gieo xong lần hai, trời rét đậm, lúa lại chết. Tôi như ngồi trên đống lửa, bao nhiêu công sức của bộ đội và của dân bỏ ra chẳng lẽ không thu được hạt thóc nào? Nếu không có thóc thì biết ăn nói với bà con sao đây? Quyết tâm làm và gieo giống đến lần thứ ba, lúa mới le lói lên.
Hàng tuần, tôi và các đồng chí trong Bộ chỉ huy phải chạy xe trên 100km lên xem lúa và đôn đốc công việc. Hàng tuần, thậm chí hàng ngày, Đồn trưởng đồn 565 – Cà xèng – đơn vị trực tiếp thực hiện mô hình này phải báo cáo thường xuyên. Tôi nhớ khi lúa làm đòng, nhận được điện báo chuột vào cắn phá, nghe tin này lúc đó giống như tin “tội phạm xâm nhập biên giới” (cười). Tôi phải lên đồn ngay để chỉ huy diệt chuột, chỉ cần chậm trễ vài đêm thôi, nó sẽ cắn nát hết lúa. May sao, trời không phụ lòng quân dân. Từ đây bà con đã yên tâm với việc phát triển trồng lúa nước, nguồn kinh tế lương thực về cơ bản đã được đảm bảo.
PV: Khi vụ mùa đầu tiên thắng lợi cũng có nghĩa là các ông đã chứng tỏ “điều không thể đã trở thành có thể: Hoàn toàn có thể trồng lúa nước ở Rục Làn. Xin ông chia sẻ cảm giác lúc đó của mình như thế nào ?
Đại tá Nguyễn Văn Phúc: Thực sự khi lúa phát triển lên từng ngày thì tôi rất mừng và cứ mừng dần, đặc biệt là khi mà lúa đã trổ bông và đến giai đoạn chín vàng. Khi đứng trước đồng lúa đang chin dần tôi mừng quá, thậm chí thấy vô cùng sdung sướng bởi không dám nghĩ công sức của bộ đội, của nhân dân ngay vụ lúa đầu tiên lại đạt được năng suất như thế. Còn mừng hơn nữa vì có lẽ đây là bước chuyển đổi đầu tiên trong phương thức sản xuất của đồng bào dân tộc Rục.
PV: Chúng tôi được biết là trồng lúa nước ở Rục Làn đã đảm bảo 6 tháng lương thực cho bà con. Đó là một điều rất quan trọng nhưng phải chăng hiệu quả mà mô hình đem lại cho đồng bào ở đây chỉ dừng lại ở đó?
Đại tá Nguyễn Văn Phúc: Thực tế trong hai vụ sản xuất vừa rồi thì có những gia đình nhận gần 1 tấn lúa 1 vụ. Có gia đình thì thấp hơn tùy theo công lao động của bà con. Điều này có ý nghĩa rất lớn vì phần nhiều thời gian trước đây bà con bị thiếu lương thực, còn bây giờ đã có lúa tại chỗ, hoàn toàn chủ động được trong khâu dự trữ lương thực. Nhưng theo tôi cái ý nghĩa lớn nhất khổng phải chỉ thuần túy về mặt kinh tế mà điều quan trọng vô cùng là từ đó chuyển đổi được cái phong tục tập quán và nhận thức lao động sản xuất cho đồng bào – những điều mà từ trước đến nay nhiều vùng đồng bào dân tộc chưa làm được.
Nền văn minh của cây lúa nước đã góp phần xua đi những tập tục lạc hậu mang đến ấm no hạnh phúc cho đồng bào nơi biên giới xa xôi. Và tôi nghĩ rằng với sự chuyển đổi này thì chắc chắn đồng bào của chúng ta trên tuyến biên giới sẽ tích cực lao động sản xuất để tự ổn định cuộc sống của mình trong tương lai.
PV: Ông có ý định nhân rộng thêm nhiều mô hình như vậy nữa không?
Đại tá Nguyễn Văn Phúc: Từ thực tiễn thành công của các công trình đã làm thì tôi rất mong muốn để triển khai ở các địa phương khác. Bởi vì đây là mô hình sản xuất rất cần thiết, rất phù hợp với đồng bào dân tộc của chúng ta trên tuyến biên giới. Cho nên chúng tôi đã quyết tâm nhân rộng thêm mô hình đó.
Hiện nay Bộ chỉ huy đã thống nhất là chỉ đạo cho các đơn vị tiến hành khảo sát ở các địa bàn mà đất có thể sản xuất được lúa nước và có nguồn nước. Sau khi có kết quả khảo sát chúng tôi sẽ nghiên cứu và báo cáo với lãnh đạo các cấp xin đầu tư dự án để tổ chức cho bộ đội tham gia hướng dẫn cho nhân dân để làm sản xuất lúa nước cho tốt ở trên toàn tuyến biên giới của tỉnh Quảng Bình.
PV: Ngoài mô hình điểm làm lúa nước, Quảng Bình trong những năm gần đây cũng là một điểm sáng về việc xây dựng các nhà đoàn kết, mái ấm biên cương cũng như công tác về phòng chống tội phạm. Xin ông có thể chia sẻ thêm những thành tích của BĐBP Quảng Bình?
Đại tá Nguyễn Văn Phúc: BĐBP tỉnh đã cùng với các cấp, các ngành xây dựng cuộc vận động "Nghĩa tình biên giới, hải đảo", phong trào "Quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc và giữ gìn và an ninh trật tự thôn, bản", phong trào "Tàu thuyền bến bãi an toàn" mang lại hiệu quả thiết thực.
Thời gian qua, BĐBP Quảng Bình nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực: Chủ động nắm chắc tình hình nội, ngoại biên, trên biên giới, tuần tra bảo vệ biên giới, vùng biển, làm tốt công tác xuất, nhập cảnh cho người, phương tiện qua lại các cửa khẩu, kiểm soát phương tiện vào ra trên biển, tham gia thực hiện dự án tôn tạo, tăng dày mốc quốc giới, đã hoàn thành 54/61 mốc. Đấu tranh phòng chống tội phạm đạt kết quả tốt, xử lý 374 vụ/694 đối tượng, thu giữ 20 kg cần sa, 204 kg thuốc bom và nhiều tang vật khác; xác lập và đấu tranh thắng lợi 5 chuyên án, khởi tố 7 vụ án/15 đối tượng. Thực hiện tốt công tác đối ngoại biên phòng, đối ngoại nhân dân, đoàn kết hữu nghị tạo tình cảm tốt đẹp với lực lượng bảo vệ biên giới và nhân dân biên giới 2 tỉnh Khăm Muộn và Sa Vẳn Na Khệt (Lào); phối hợp giải quyết các vấn đề liên quan biên giới.
Thực hiện chương trình "Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo", năm 2011 chúng tôi đã làm được 84 nhà đại đoàn kết, 1 nhà đồng đội, 2 nhà tình nghĩa với số tiền hơn 4,4 tỷ đồng; Xác định "Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt" các đồn biên phòng của chúng tôi cố gắng xây dựng chính quy, nề nếp, có cảnh quan môi trường xanh- sạch- đẹp, thực sự là điểm sáng trên biên giới.
PV: Quả thực đó là những thành tích rất đáng tự hào. Nhân ngày truyền thống bộ đội biên phòng, xin chúc ông và các cán bộ chiến sỹ của BP Quảng Bình luôn mạnh khỏe, hòa thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chúc cho những dự định của những người lính BPQB sẽ trở thành hiện thực./.
