"Binh đoàn than” mạch nguồn kỷ luật và đồng tâm trong thời đại mới

VOV.VN - Từ những đường lò than Quảng Ninh, nhiều công nhân đã rời hầm mỏ, khoác áo lính, góp sức vào mùa Xuân 1975 lịch sử. Câu chuyện của cựu chiến binh Bùi Duy Thinh là một lát cắt tiêu biểu về “Binh đoàn Than” - lực lượng mang tinh thần kỷ luật và đồng tâm làm nên chiến thắng 30/4/1975.

Trong ký ức về những đoàn quân tiến về Sài Gòn mùa Xuân năm 1975, có những bước chân không xuất phát từ thao trường, mà từ những đường lò sâu hun hút của vùng than Quảng Ninh. Đó là những người thợ mỏ, những công nhân quen với máy móc, với nhịp lao động nặng nhọc. Khi Tổ quốc cần, họ rời hầm lò, khoác ba lô lên đường, trở thành người lính. Một trong số họ là cựu chiến binh Bùi Duy Thinh, khi ấy là cán bộ kỹ thuật mỏ Hà Tu. Hành trình của ông cũng là hành trình tiêu biểu của lực lượng đặc biệt mang tên “Binh đoàn Than”, góp phần vào chiến thắng lịch sử ngày 30/4/1975.

“Ngay cả Vịnh Hạ Long êm dịu bao ngày cũng cuồn cuộn trào lên theo tiếng gọi của Bác Hồ. Miền Nam đã 19 năm ròng máu lửa, dân tộc và Tổ quốc đang chờ. Khi đó, chúng tôi xác định rất rõ là phải lên đường” - Những dòng nhật ký ấy được ghi vội trong cuốn sổ tay đã nhuốm màu thời gian của một người lính mỏ nay đã ở tuổi ngoài 80. Từ một cán bộ kỹ thuật quen với máy móc, bản vẽ và những con số, thợ mỏ Bùi Duy Thinh bước vào quân ngũ với những chuyến hành quân ban đêm, mang vác nặng, di chuyển qua nhiều địa hình phức tạp, giữ bí mật tuyệt đối.

Mùa hè năm 1967, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, tại khu vực rạp Bạch Đằng, hàng nghìn công nhân ngành than tham gia một đợt tuyển quân quy mô lớn. Đây là lực lượng trước đó được giữ lại để đảm bảo sản xuất, nhưng khi có yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam, họ đã chủ động viết đơn tình nguyện lên đường. Khoảng 2.000 công nhân mỏ Hà Tu, Hà Lầm, Đèo Nai, Cọc Sáu cùng thanh niên các dân tộc Quảng Ninh được tổ chức thành 3 tiểu đoàn.

Sau nhiều tháng huấn luyện, giữa tháng 12/1967, lực lượng này chính thức hành quân vào Nam. Cựu chiến binh Bùi Duy Thinh nhớ lại, cái tên “Binh đoàn Than” ra đời từ chính ngày xuất quân, không phải là phiên hiệu chính thức, nhưng trở thành biểu tượng về tinh thần kỷ luật, sự gắn bó và ý chí của những người thợ mỏ.

“Trong điều kiện chiến tranh, kỷ luật quân đội rất nghiêm. Thời gian huấn luyện, sinh hoạt được quy định chặt chẽ, không có chuyện đi lại tự do. Ngoài các bài huấn luyện cơ bản, chúng tôi còn phải tập mang vác nặng, hành quân leo núi, rèn luyện sức bền để khi vào chiến trường có thể thích nghi được. Là những người thợ mỏ, vốn đã quen với lao động nặng nhọc nên khi vào quân đội cũng phần nào thích nghi nhanh hơn. Đặc biệt, lực lượng của Binh đoàn Than có tính kỷ luật rất cao, tác phong nhanh nhẹn, khả năng tiếp thu chiến thuật cũng tốt hơn”, Cựu chiến binh Bùi Duy Thinh cho biết.

Cựu chiến binh Chu Văn Đích kể: từ những người công nhân quen với nhịp sản xuất, họ bước vào chiến trường với hành trang rất riêng của vùng mỏ bền bỉ, chịu khó, gắn bó với tập thể và quen tuân thủ kỷ luật. Những phẩm chất ấy giúp họ vượt qua những tháng ngày hành quân gian khổ trước khi bước vào chiến đấu. Năm 1968, "Binh đoàn Than" tham gia những trận đánh đầu tiên tại khu vực Tà Cơn, trong Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, một trong những chiến trường ác liệt nhất lúc bấy giờ.

"Đánh ở vùng Lộc Ninh, Tây Ninh, lộ Hớn Quản, Nguỵ cũng phải thừa nhận đây là Binh đoàn Than đánh. Thực ra trong đơn vị Sư đoàn 1 của tôi chiến sĩ Binh đoàn Than không nhiều, nhưng không hiểu sao địch lại tung ra tin đó. Đấy là Kỷ luật Đồng tâm, sức mạnh của công nhân mỏ vào đến tận miền Nam", Cựu chiến binh Chu Văn Đích nói.

Ngay từ những trận đánh đầu tiên, những người lính xuất thân từ thợ mỏ đã phải đối mặt với mất mát. Họ không chỉ chiến đấu với đối phương, mà còn phải vượt qua nỗi đau khi đồng đội ngã xuống ngay bên cạnh mình. Sau năm 1968, các chiến sĩ "Binh đoàn Than" được bổ sung về nhiều đơn vị chủ lực, tiếp tục chiến đấu trên các chiến trường trọng điểm như Tây Nguyên, Nam Lào, Kon Tum, rồi tiến xuống các tỉnh duyên hải miền Trung. Mùa Xuân năm 1975, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh được triển khai, nhiều chiến sĩ xuất thân từ "Binh đoàn Than" đã có mặt trong các mũi tiến công vào Sài Gòn, tham gia đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu.

 Ông Bùi Duy Thinh nói: “Khi tiến vào Sài Gòn, tận mắt chứng kiến quân địch tan rã, đầu hàng, chúng tôi hiểu rằng thắng lợi đã đến. Nhưng trong niềm vui đó vẫn xen lẫn nỗi tiếc thương đối với những đồng đội đã ngã xuống. Thời điểm đó, tâm trạng của người lính rất đặc biệt, vừa vui mừng, phấn khởi trước thắng lợi, vừa lo lắng nếu mình hy sinh thì sẽ không được chứng kiến giây phút cuối cùng của chiến tranh”.

Chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, nhưng mất mát thì còn ở lại rất lâu. Cựu chiến binh Bùi Duy Thinh bồi hồi nói trong số khoảng 2.000 người lên đường năm ấy, chỉ một phần trở về; hàng trăm người mang thương tật hoặc bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Những người còn sống lại trở về với ngành than, với công việc quen thuộc, nhưng trong họ đã hun đúc bản lĩnh của người lính.

“Cho đến giờ mà còn sống, còn có thể gặp lại nhau như thế này, tôi hy vọng anh em đồng đội sẽ luôn giữ được sức khỏe để có điều kiện gặp gỡ trực tiếp, chia sẻ, truyền lại tinh thần, khí phách và những giá trị của những người đã đi qua chiến tranh. Đó không chỉ là ký ức, mà còn là trách nhiệm để thế hệ hôm nay hiểu, trân trọng và tiếp nối những gì cha anh đã trải qua”, cựu chiến binh Bùi Duy Thinh  chia sẻ.

Câu chuyện của "Binh đoàn Than" không dừng lại ở chiến tranh. Hòa bình lập lại, tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm” ấy tiếp tục đi cùng người thợ mỏ trong công cuộc khôi phục sản xuất, xây dựng ngành than và phát triển kinh tế đất nước. Nếu trong chiến tranh, kỷ luật giúp người lính giữ vững đội hình giữa bom đạn, thì trong thời bình, kỷ luật giúp người thợ giữ an toàn trong từng ca sản xuất. Nếu đồng tâm từng giúp họ vượt qua chiến trường, thì trong hầm lò hôm nay, đồng tâm là cách người thợ mỏ dựa vào nhau để làm chủ kỹ thuật, nâng năng suất và giữ bình yên sau mỗi ca làm.

Từ thế hệ "Binh đoàn Than" năm xưa, tinh thần ấy được trao truyền cho những người thợ mỏ thời kỳ đổi mới. Ở Công ty CP Than Vàng Danh - Vinacomin, thợ lò Phạm Đình Duẩn là một điển hình như thế. Từ một công nhân trực tiếp sản xuất, anh trở thành Tổ trưởng sản xuất, Phân xưởng Khai thác 14, được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Ở anh, có thể thấy bóng dáng của người thợ mỏ hôm nay không cầm súng ra trận, nhưng vẫn bước vào lòng đất mỗi ngày bằng bản lĩnh, trách nhiệm, sáng tạo và tinh thần tập thể.

Công nhân Phạm Đình Duẩn bộc bạch, điều đáng quý là mạch nguồn ấy nằm trong cách người thợ xuống lò đúng quy trình, giữ an toàn cho đồng đội, tìm cách cải tiến kỹ thuật, vượt chỉ tiêu sản xuất, nhưng vẫn đặt con người ở vị trí trung tâm. Từ “người thợ mỏ, người chiến sĩ” năm xưa đến “người thợ mỏ thời kỳ đổi mới” hôm nay là một hành trình dài, nhưng cùng chung một gốc rễ, đó là kỷ luật để vững vàng, đồng tâm để đi xa.

“Với chúng tôi, thông điệp xuyên suốt là luôn giữ vững truyền thống “kỷ luật và đồng tâm” của vùng mỏ. Đây không chỉ là một câu nói, mà là giá trị cốt lõi thể hiện tinh thần đoàn kết của người thợ mỏ. Truyền thống đó đã được hình thành và vun đắp qua nhiều năm, giúp những người thợ mỏ vượt qua khó khăn, thử thách và đạt được những thành quả trong lao động, sản xuất”, anh Phạm Đình Duẩn cho biết.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những người lính của "Binh đoàn Than" năm xưa nay đã ở tuổi xưa nay hiếm, nhưng ký ức về chiến tranh, về đồng đội, về những năm tháng chiến đấu bảo vệ đất nước vẫn còn vẹn nguyên. Từ những vỉa than Quảng Ninh đến chiến trường miền Nam, từ người công nhân trở thành người lính, rồi trở về dựng xây quê hương, hành trình của "Binh đoàn Than" là nhân chứng sống cho sức mạnh của tinh thần kỷ luật, sự đồng lòng và ý chí cống hiến.

Và trong thời đại mới, tinh thần ấy không chỉ được nhắc lại như một ký ức lịch sử. Nó đang tiếp tục sống trong từng ca sản xuất, từng đường lò, từng người thợ trẻ đang làm giàu cho quê hương, đất nước bằng đôi tay, trí tuệ và lòng tự hào của người vùng mỏ.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Tin liên quan

Đài phát thanh Giải phóng - Tiếng nói anh hùng góp phần làm nên chiến thắng 30/4
Đài phát thanh Giải phóng - Tiếng nói anh hùng góp phần làm nên chiến thắng 30/4

VOV.VN - Ngày 1/2/1962, tại Chiến khu D, Đài Phát thanh Giải phóng – cơ quan của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam – chính thức phát sóng trở thành nguồn cổ vũ tinh thần to lớn cho quân và dân miền Nam, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Đài phát thanh Giải phóng - Tiếng nói anh hùng góp phần làm nên chiến thắng 30/4

Đài phát thanh Giải phóng - Tiếng nói anh hùng góp phần làm nên chiến thắng 30/4

VOV.VN - Ngày 1/2/1962, tại Chiến khu D, Đài Phát thanh Giải phóng – cơ quan của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam – chính thức phát sóng trở thành nguồn cổ vũ tinh thần to lớn cho quân và dân miền Nam, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

NSƯT Hà Phương kể về người đọc Bản tin chiến thắng ngày 30/4/1975
NSƯT Hà Phương kể về người đọc Bản tin chiến thắng ngày 30/4/1975

VOV.VN - Trong chương trình chính luận nghệ thuật đặc biệt “Khúc ca khải hoàn” do Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức diễn ra tối 25/4 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Nhà báo, NSƯT Hà Phương đã kể lại cảm xúc của ông và các đồng nghiệp khi nhận được bản tin chiến thắng vào trưa ngày 30/4/1975.

NSƯT Hà Phương kể về người đọc Bản tin chiến thắng ngày 30/4/1975

NSƯT Hà Phương kể về người đọc Bản tin chiến thắng ngày 30/4/1975

VOV.VN - Trong chương trình chính luận nghệ thuật đặc biệt “Khúc ca khải hoàn” do Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức diễn ra tối 25/4 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Nhà báo, NSƯT Hà Phương đã kể lại cảm xúc của ông và các đồng nghiệp khi nhận được bản tin chiến thắng vào trưa ngày 30/4/1975.