Chiếc máy ghi âm R5 ở chiến trường

Những chiếc máy ghi âm R5, R6 nặng hơn 5kg đã trở thành kỷ niệm khó quên của hai thế hệ làm báo nói kế tiếp nhau ở Đài Phát thanh giải phóng và Đài TNVN

Cách đây 38 năm, vào mùa đông năm 1973, Hiệp định Pari đã ký kết được 11 tháng. Theo Hiệp định, hòa bình đã lập lại trên miền Bắc, nhưng ở nhiều vùng quê bị máy bay và pháo biển của Mỹ “cày đi, xới lại”, vết thương chiến tranh còn rất nặng nề. Ở miền Nam, từ Quảng Trị đến Cà Mau, Rạch Giá hình thành hai vùng lãnh thổ: vùng giải phóng do cách mạng làm chủ; vùng chưa được giải phóng do quân đội Sài Gòn chiếm đóng…

Giữa hai vùng có tuyến giáp ranh giữa ta và địch, quân đội hai bên dàn thế trận đan xen để bảo vệ từng tấc đất thuộc chủ quyền lãnh thổ của mình. Quảng Trị có vùng giải phóng khá rộng, bao gồm các huyện: Gio Linh, Cam Lộ, toàn bộ thị xã Đông Hà, một phần của huyện Triệu Phong và Hải Lăng, nối với vùng giải phóng ở Thừa Thiên - Huế và huyện Vĩnh Linh thuộc bờ Bắc sông Bến Hải. Cùng với thị xã Lộc Ninh thuộc tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước), thị xã Đông Hà là một trong hai thị xã được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đặt trụ sở các cơ quan thuộc Chính phủ. Đại sứ một số nước có quan hệ ngoại giao với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đặt cơ quan đại diện và trình quốc thư ở Đông Hà.

Dàn loa phóng thanh bên bờ Hiền Lương trong những năm kháng chiến chống Mỹ (ảnh: Hoàng Hải)

Giữa tháng 12/1973, Quảng Trị tổ chức lễ mừng Chiến thắng ở Đông Hà. Từ Hà Nội, chúng tôi đi ô tô qua các tỉnh của Quân khu IV để vào Quảng Trị phản ánh sự kiện quan trọng này. Đoàn do nhà báo Lê Hào, Phó trưởng Ban biên tập Chương trình phát thanh Quân giải phóng miền Nam, Đài Phát thanh giải phóng A (CP90) làm trưởng đoàn. Hai phóng viên thời sự của Đài cùng tham gia đoàn vào dự lễ.

Đã từng làm phóng viên mặt trận Quảng Trị suốt thời gian địch tái chiếm Quảng Trị trong mùa hạ và mùa thu 1972, khi được ngủ trong đêm Đông Hà tương đối yên tĩnh, tôi thổn thức, không sao chợp mắt được. Chúng tôi ở trong nhà dân, cùng với đoàn đại biểu huyện Hướng Hóa do anh Hồ Lôi, người Vân kiều, Bí thư Huyện ủy làm Trưởng đoàn. Suốt đêm, bà con Hướng Hóa kể chuyện về làng Vây, Khe Sanh trong cuộc giam chân lính thủy đánh bộ Mỹ từ đợt hai của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968; về cuộc rút chạy thảm bại khỏi Quảng Trị của quân ngụy Sài Gòn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1972.

Anh em chúng tôi, mỗi người một máy ghi âm R5 đã ghi được các cuộc trò chuyện rất sinh động của đại biểu đoàn Hướng Hóa, Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh, Cam Lộ và thị xã Quảng Trị. Sáng hôm sau, trước khi lễ mừng công khai mạc, 4 cuốn băng đã được gửi máy bay trực thăng về Hà Nội. Đêm về, khi mở Đài Giải phóng và Đài TNVN, các cuộc trò chuyện về vùng giải phóng Quảng Trị được truyền trên sóng. Ngày đó, đi xa Hà Nội trên nửa ngàn kilômét, có băng ghi âm tiếng động gửi về Đài là quý vô cùng. Nhờ những chuyến máy bay trực thăng chở lãnh đạo Trung ương từ Hà Nội vào Đông Hà rồi lại ra Hà Nội, chúng tôi đã có điều kiện gửi bài và băng ghi âm về Đài để kịp thời phản ánh sự kiện quan trọng ở giữa chiến trường.

Sau lễ mừng công, chúng tôi đi vào tuyến giáp ranh dọc sông Thạch Hãn. Cán bộ chỉ huy Sư đoàn 325 thường bố trí để chúng tôi đi sau hai xe vận tải chở gạo cho bộ đội. Gạo được cho vào bao tải gai, xếp đầy xe, nếu gặp mìn chống xe tăng do thám báo địch lén lút gài trên đường thường chỉ bị hỏng gầm xe và một số bao tải gạo ở bên dưới. Vì vậy, xe chúng tôi được bảo đảm an toàn. Tuyến giáp ranh từ Nhan Biều về Hải Lăng được giăng dây thép gai dài dằng dặc. Cả hai bên, ta và địch đều có các tuyến hào giao thông và ụ súng chiến đấu chằng chịt. Những nấm mồ vừa xanh cỏ từ cuộc giằng co trong hè - thu 1972 cứ nhấp nhô dày đặc trên mặt đất. Cứ khoảng gần 1 kilômét lại có một cái chòi lợp tôn, bên trong có bàn, ghế dã chiến, có ấm chén và phích nước nóng để hai bên giao tiếp với nhau.

Theo yêu cầu của chúng tôi, các đơn vị của Sư đoàn 325 đã bố trí cho bốn nhà báo chia ra bốn hướng, mỗi người tiếp xúc với lính địch ở một chòi hòa hợp. Nếu chỉ trò chuyện thì đơn giản, vấn đề quan trọng là phải ghi âm được cuộc trò chuyện. Thế nhưng, đem máy ghi âm ra công khai thì lính địch sẽ không tiếp xúc. Máy ghi âm R5 phải vặn được nút thu bằng cách nào là một vấn đề cần suy nghĩ. Tôi bàn với chính trị viên Đại đội 5 và hai chiến sĩ: Các anh cứ trò chuyện, tôi như là một thành viên trong tổ hòa hợp.

Trước khi lên chòi hòa hợp, chúng tôi lấy băng dính định vị nút vặn tốc độ thu, định vị nút mở máy sẵn. Micro được bọc một miếng vải màn màu rêu (màu quân trang bộ đội). Sau đó cho máy ghi âm vào túi vải bạt đeo vai. Micro giấu kín, hướng về phía lính địch. Mỗi cuộc tiếp xúc được khoảng 20 phút là hết một băng. Theo cách đó, trong 4 ngày ở tuyến giáp ranh, mỗi chúng tôi đi được bốn chốt hòa hợp, ghi âm được bốn cuộc trò chuyện giữa bộ đội ta và binh lính địch. Đó là nguồn tư liệu rất quý, nếu không có, chuyến đi lên tuyến giáp ranh coi như không thành công.

Năm tháng qua đi…

Bây giờ, kỹ thuật điện tử phát triển nhanh và đa dạng nhưng những chiếc máy ghi âm R5, R6 nặng tới trên 5kg vẫn là một kỷ niệm khó quên của một thời chiến tranh và một thời hòa bình của hai thế hệ làm báo nói kế tiếp nhau ở Đài Phát thanh giải phóng và Đài Tiếng nói Việt Nam./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.