Đặc ân của lịch sử
Điều tôi hơi bất ngờ là cuốn tiểu thuyết Khối mây hình lưỡi búa (Tập 1) quá hấp dẫn, vượt xa cảm giác ban đầu của mình
Cầm tập sách dày in rất đẹp trên tay, lật qua mấy trang đầu, tôi thoáng nghĩ: Viết về các trận chiến của không quân ta. Một đề tài quá ư nghiêm túc. Các nhân vật chính khoanh lại một nhóm người hơi... đặc biệt. Tiêu điểm diễn biến câu chuyện là bản doanh Không quân của ta ở Hà Nội và Lầu năm góc phương Đông của Mỹ tại sân bay Tân Sơn Nhất. Chắc là khó tươi mát. Với chủ đề ấy dễ gì cuốn hút người đọc thời nay. Sách lại khá dày, lo sức mình khó nuốt trôi. Không ngờ, đọc tiếp vài chương, tôi bị hút luôn và không rời nó ra được cho tới khi hết vèo gần 800 trang.
Một cuốn tiểu thuyết đặt vào bối cảnh lịch sử rất xác định: Những ngày không quân non trẻ của ta mới ra đời. Những trận không chiến đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đã thế lại phải đánh thắng không quân một siêu cường vượt trội hơn ta nhiều lần về số máy bay, vũ khí, kỹ thuật tân tiến nhất thế giới, với những phi công được đào tạo chính quy, mà số giờ bay tích lũy nhiều hơn các chiến sĩ lái máy bay chiến đấu của ta cả mươi, mười lăm lần. Thế mạnh duy nhất của ta là yếu tố tinh thần dựa trên sức mạnh toàn dân, là mưu lược và quyết tâm đánh thắng để bảo vệ độc lập, tự do, là chiều dày văn hiến Việt Nam. Đã là chiến tranh, dĩ nhiên có thắng có thua. Trận thắng của ta trên bầu trời Thanh Hóa năm 1965 để bảo vệ cầu Hàm Rồng ngay lần ra quân đầu tiên quá ư giòn giã. Nó đi vào lịch sử dân tộc như một ngày truyền thống: Ngày 3 tháng 4.
Quân đội Mỹ đâu phải non kém. Họ rút kinh nghiệm luôn. Ngay sau trận thắng, ta thua liền mấy trận. Cứ vậy, cuộc chiến diễn ra quyết liệt, cuộc đấu trí luôn căng như dây đàn. Những mâu thuẫn trong các tính cách nhân vật ngày càng bộc lộ. Và chúng ta lớn mạnh trong mất mát, gian nan.
Tôi hiểu đã là tiểu thuyết, mọi nhân vật, tình huống, diễn biến câu chuyện theo lý thuyết tùy thuộc ở tài sáng tạo của tác giả. Người viết muốn ai chết người ấy khắc chết, muốn ai sống sẽ được sống. Nhưng Khối mây hình lưỡi búa thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sử, nó không được hư cấu ngược lịch sử, tách khỏi những sự kiện, những nhân vật tạo thành khung cảnh. Nó chỉ được thêm chứ không được đổi. Bộ tiểu thuyết của Lê Thành Chơn đặt khung cảnh trên cái nền đã đi vào lịch sử như đặc điểm nổi bật của thế giới thế kỷ XX, đặc biệt của dân tộc ta và đất nước Hoa Kỳ: chiến tranh Việt Nam. Nhiều nhân vật của Lê Thành Chơn, những người đọc cùng thời với câu chuyện dễ dàng nhận ra nguyên mẫu trong cuộc đời thực, có bộ đội, có dân thường, có chỉ huy, có chiến sĩ, cho dù tác giả dụng công sáng tạo, đổi tên. Đó là những cán bộ trưởng thành từ kháng chiến chống Pháp, là những thanh niên mới bước vào đời, Bắc - Nam hòa quyện cùng nhau chiến đấu. Họ là những con người có ưu có khuyết, lập nên những thành tích tuyệt vời và mắc những lỗi lầm tầm thường, thậm chí hèn hạ. Những tư lệnh và sĩ quan của quân lực Hoa Kỳ có học vị cao, được đào tạo chính quy, nếp sống hiện đại, tất cả tắm mình trong mặc cảm siêu cường, ôm ảo mộng mang “tự do, khai hóa” đến cho các dân tộc khác, vậy mà - hay là chính vì vậy - khi lâm trận, họ sớm bộc lộ tinh thần khiếp hãi đối phương mà họ luôn chế nhạo trang bị lạc hậu, sợ chết, lúc nào họ cũng nơm nớp bị bắn rơi, sa vào tay những nông dân lạc hậu tay cày tay súng có mặt khắp nơi, mà họ hoàn toàn chưa có đủ thực tế để hiểu được lòng nhân hậu. Và làm sao thiếu vắng được, thấp thoáng bóng dáng phụ nữ, những cô gái ngây thơ đến thánh thiện và những người đàn bà phản bội chồng con...
Lê Thành Chơn là nhà văn xuất thân sĩ quan không quân, quê ở miền Nam, trưởng thành và chiến đấu trên đất Bắc, bao năm gắn bó với binh chủng với đồng đội. Đọc ông, tôi có cảm giác nhận ra chính tác giả đang sống, đang hành động giữa các đồng đội, thông qua một nhân vật vẫn biết là hư cấu. Lại tưởng nhận ra hình dáng, tính cách một số bè bạn của chính mình. Và tự dưng, tôi trở thành người mắc bệnh đại ngôn, sính... triết lý. Tôi nghĩ thật lòng: trong cuộc sống không ngưng của dân tộc, của nhân loại, mỗi thời mỗi phát triển, mỗi bước mỗi văn minh, cho dù có gập ghềnh xen kẽ nhục vinh, hạnh phúc gian truân, mỗi thế hệ con người đều được lịch sử giao sứ mệnh nhất định, đó cũng là những đặc ân dành cho họ.
Lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta, những thế hệ đi đầu có sứ mệnh mở cõi mở nước. Những thế hệ sống thời thịnh trị thì đặc ân lịch sử ban cho họ là kiến tạo, dựng xây đất nước cả về vật chất và tinh thần. Các thế hệ sống vào nửa đầu thế kỷ vừa qua, đặc ân lớn họ nhận được từ lịch sử là giành lại quyền tự chủ cho đất nước sau gần trăm năm bị nô dịch. Nửa sau thế kỷ là chiến đấu giữ nước và phẩm giá dân tộc trên cái nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, chống lại các đối phương là những nước giàu nhất, mạnh nhất, to nhất hành tinh. Cho dù phải xả thân, vượt qua bao mất mát, có khi phải trả giá cao, rốt cuộc chúng ta đã thắng. Sứ mệnh ấy vô cùng vẻ vang, không phải thế hệ nào cũng có. Lịch sử không lặp lại hai lần, lần sau y nguyên lần trước.
Trong đặc ân chung dành cho toàn bộ nhân dân, có những đặc ân cụ thể, đặc thù với mỗi lớp người. Các thế hệ sống nửa sau thế kỷ XX làm sao quên được những giờ phút hãi hùng bản năng dưới bom đạn của đối phương từ trên trời trút xuống, những giờ phút đớn đau đến cùng cực khi phải hối hả đào bới đống đổ nát chúng vừa gây nên, lòng đau đáu một mong muốn: mau chóng tìm thấy người thân, đồng đội, đồng bào còn sống, bị thương hay tim đã vỡ nát. Rồi những giờ phút xuất thần: mọi người cùng nhảy lên, cùng hò reo khi máy bay Mỹ trúng đạn rơi như bó đuốc rạng rực bầu trời Tổ quốc: “Cháy rồi, rơi rồi... Chúng nó nhảy dù kia...”. Và bất chấp cái chết đang rình rập trên đầu, ùa nhau đi bắt sống giặc lái. Những người lính phòng không, không quân những năm 60, 70 thế kỷ trước, Lê Thành Chơn và các nhân vật của ông trong Khối mây hình lưỡi búa vinh hạnh được sống ở trung tâm đặc ân có một không hai ấy. Làm sao có thể quên. Phải ghi chép, phải tái hiện thành nghệ thuật cho ngày nay và cho mai sau.
Ngoài sự cuốn hút đích thân của các nhân vật và sự kiện, qua những tình huống được nhà văn tái hiện sống động trong tiểu thuyết của ông, có lẽ nhờ cộng hưởng cái “triết lý” trên đây cho nên tôi có những giờ phút ngất ngây, sẻ chia vui buồn cùng các nhân vật. Đến trang cuối, dù đã nhìn rõ mấy chữ “Hết phần một”, tôi vẫn bấm luôn điện thoại, nôn nóng hỏi tác giả: “Anh viết cả Điện Biên Phủ trên không chứ”. Giọng nhà văn ở đầu dây bên kia bình thản: “Có. Vào cuối tập II”.
Phải có chứ. Như một lẽ đương nhiên. Làm sao khác được. Nói đến Phòng không, Không quân Việt Nam, đã có những giờ phấn chấn ngỡ ngàng tháng 4 năm 1965, tất có những ngày đớn đau mà rạng rỡ tháng 12 năm 1972.../.
* Khối mây hình lưỡi búa (Tập I), tiểu thuyết của Lê Thành Chơn, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2009.