Đào tạo nhân tài: Từ lớp học đến doanh nghiệp, cần hệ sinh thái đồng bộ
VOV.VN - Từ phổ thông đến đại học, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài. Thi cử nặng nề, chương trình đào tạo chưa cá thể hóa, cơ chế thu hút chưa đủ linh hoạt… tất cả đặt ra yêu cầu xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ, từ lớp học đến chính sách quốc gia.
Phổ thông đến đại học: Gỡ điểm nghẽn trong phát hiện và bồi dưỡng tài năng
GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT), nhấn mạnh cần xây dựng hệ thống phát hiện và nuôi dưỡng nhân tài sớm, liên thông từ phổ thông đến đại học và sau đại học. Hội thảo “Đào tạo, trọng dụng tài năng trong bối cảnh mới” do Báo Tiền Phong phối hợp với Bộ GD&ĐT và cơ quan liên quan tổ chức sáng 8/4, đã đề xuất các giải pháp phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Theo GS Thảo, chính sách phát hiện và bồi dưỡng nhân tài hiện còn thiếu động lực, chưa liên tục và chưa gắn kết chặt giữa đào tạo, nghiên cứu và sử dụng. Việc đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển chưa đủ sức cạnh tranh, dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám” và lãng phí nhân tài. “Đất nước cần những nhà khoa học hàng đầu dẫn dắt các ngành công nghệ lõi, năng lượng tái tạo và công nghệ mới nổi,” ông Thảo nhấn mạnh.
GS.TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ - ĐH Quốc gia Hà Nội, cho rằng sinh viên tài năng không chỉ là những người tốt nghiệp bằng đỏ hay học sinh giành huy chương quốc tế. “Chúng ta cần tạo môi trường để họ chứng minh tài năng và đem vào thực tiễn,” ông nói. Ông Trình cũng nhấn mạnh vai trò chuẩn đầu ra gắn liền với phát triển bền vững: tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm sau 6 tháng quan trọng, nhưng quan trọng hơn là sau 5–10 năm họ có bứt phá và trở thành chuyên gia dẫn dắt hay không.
Ở góc độ phổ thông, bà Trần Thùy Dương, Hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Hà Nội - Amsterdam, cho rằng khái niệm “nhân tài” đã thay đổi theo hướng đa trí tuệ. “Một học sinh chuyên Toán có thể rất giỏi robot, nghệ thuật hay tranh biện, trong khi học sinh chuyên Ngoại ngữ cũng có thể xuất sắc về STEM”, bà Dương chia sẻ. Nhà trường tiếp cận học sinh từ nhiều góc độ để phát hiện tố chất riêng, không bắt tất cả học sinh chuyên Toán phải thi Olympic. Mô hình câu lạc bộ là cách hiệu quả để bộc lộ, nuôi dưỡng đam mê mà không chịu áp lực điểm số.
GS Thảo cũng đề xuất đổi mới căn bản mô hình đào tạo tài năng: cá thể hóa học tập, gắn với nghiên cứu, các phòng thí nghiệm trọng điểm và nhóm nghiên cứu mạnh; đồng thời, gắn chặt đào tạo với sử dụng nhân tài, đột phá về chính sách thu hút và trọng dụng, phát triển mô hình “ba nhà” (Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp), cơ chế hỗ trợ thu nhập, điều kiện làm việc và môi trường sáng tạo minh bạch.
Điểm nghẽn từ lớp học đến chính sách vĩ mô
Quá trình đào tạo nhân tài bắt đầu từ phổ thông, nhưng cách tiếp cận hiện nay vẫn còn hạn chế. Bà Nguyễn Thị Nhiếp, Hiệu trưởng Trường THPT Chu Văn An (Hà Nội), nêu rõ: “Hệ thống giáo dục phổ thông hiện nay vẫn tập trung nhiều vào thi cử, chọn ra một nhóm học sinh giỏi theo cùng một khuôn mẫu, trong khi nhiều dạng tài năng khác như nghệ thuật, lãnh đạo, sáng tạo chưa được nhận diện đầy đủ. Học sinh bị cuốn vào các kỳ thi, chạy theo huy chương, dẫn đến giỏi giải bài nhưng hạn chế trong tư duy độc lập và khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn”.
Bà Nhiếp cũng nhấn mạnh vấn đề thiếu liên thông trong lộ trình phát triển: “Không ít học sinh xuất sắc ở bậc THPT, nhưng khi lên đại học lại không phát huy được năng lực do thiếu định hướng dài hạn và sự dẫn dắt liên tục”. Chương trình đào tạo hiện nay mang tính đại trà, chưa có lộ trình riêng cho học sinh năng lực nổi trội. “Môi trường giáo dục chưa thực sự khuyến khích thử nghiệm và chấp nhận sai sót, khiến nhiều học sinh e dè, không dám bộc lộ hết khả năng”.
Ở bậc đại học, hạn chế càng rõ khi công nghệ thay đổi nhanh. PGS.TS Nguyễn Phong Điền, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, nhận định: “Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở tốc độ thay đổi của công nghệ, đặc biệt là AI, đang vượt xa nhịp điều chỉnh của hệ thống đào tạo.” Hai yếu tố then chốt là đầu vào và chương trình đào tạo. Nếu đầu vào không đủ tốt, khó triển khai các chương trình tài năng sâu; nếu chương trình không cập nhật kịp, sinh viên giỏi cũng khó phát huy hết năng lực.
Đại học Bách khoa Hà Nội đã triển khai nhiều giải pháp: thu hút giảng viên tài năng, tổ chức chương trình tài năng quy mô nhỏ, tuyển chọn qua xét tuyển tài năng, thi đánh giá tư duy, sinh viên tham gia dự án nghiên cứu và hợp tác với doanh nghiệp.
TS Đỗ Đức Dũng, Giám đốc bộ phận giải pháp phần mềm Samsung R&D Việt Nam, đánh giá sinh viên Việt Nam có thế mạnh tự học, chủ động nghiên cứu, ngoại ngữ cải thiện tốt nhưng vẫn còn thiếu năng lực nghiên cứu chuyên sâu và kỹ năng làm việc quốc tế. Doanh nghiệp cần không chỉ nhân lực giỏi mà còn đội ngũ có khả năng dẫn dắt dự án.
GS David Trần, Đại học Massachusetts Boston (Mỹ), chia sẻ kinh nghiệm: “Các trường đại học Mỹ nhìn việc tuyển dụng giáo sư như một khoản đầu tư mạo hiểm, không áp KPI cứng nhắc mà đặt niềm tin vào năng lực của nhà khoa học.”
Ông nhấn mạnh: “Việt Nam cần tạo môi trường cởi mở, trao niềm tin và cơ hội cho nhân tài. Đầu tư cho khoa học nên được coi là chiến lược dài hạn; chỉ cần một vài người tạo ra đóng góp đủ lớn để đưa Việt Nam ghi dấu trên bản đồ khoa học thế giới, đó đã là thành công đáng giá”.
TS Trần Nam Tú, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ GD&ĐT), khẳng định: phát triển nhân lực chất lượng cao đòi hỏi cách tiếp cận đa nguồn lực, kết nối Nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục. Huy động doanh nghiệp giúp gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn, đặc biệt thu hút trí thức Việt ở nước ngoài.
Đào tạo nhân tài là quá trình xuyên suốt, từ phổ thông đến đại học, gắn chặt với thị trường lao động. Giải quyết bài toán này không thể chỉ dựa vào một khâu, mà cần hệ sinh thái đồng bộ, kết nối chặt chẽ đào tạo, thu hút và sử dụng nhân tài, khi đó nguồn nhân lực chất lượng cao mới trở thành động lực thực sự cho tăng trưởng và cạnh tranh quốc gia.