Đổi thay ở xã nghèo Tà B’hing

Thành công của Tà B’hing qua hơn 10 năm xây dựng đời sống văn hóa không những làm thay đổi cuộc sống đồng bào mà còn phục hồi và bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa truyền thống

Sau một ngày lên nương rẫy, chiều về các thành viên trong nhóm dệt thổ cẩm tập trung trong gươl làng để dệt nên những sắc màu thổ cẩm. Tiếng cồng chiêng, tiếng trống âm ba vang vọng một góc rừng.

Đổi thay ở xã nghèo

Từ Bến Giằng (trung tâm huyện lỵ Nam Giang, Quảng Nam) theo con đường 14D dẫn lên biên giới khoảng 12km là đến thôn Zơ Rá, xã Tà B’hing. Từ trên cao nhìn xuống, làng Zơ Rá nằm trong một lòng chảo lọt thỏm giữa bốn bề rừng núi. Hòa trong màu xanh của cây lá là màu xanh những mái nhà thuộc Chương trình 134. 

Tiếp xúc với chúng tôi, Bí thư Đảng ủy xã Tà B’hing Alăng Văng cho biết: “Chính sự thay đổi mạnh mẽ trong cách nghĩ, cách làm kinh tế của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cho đến từng hộ dân, mà Tà B’hing đã tận dụng khá tốt tiềm năng, lợi thế sẵn có để phát triển nông - lâm nghiệp toàn diện, bền vững. Nhờ đó, xã luôn đảm bảo được lương thực tại chỗ, từng bước sản xuất ra một số sản phẩm nông nghiệp hàng hóa”.

Các nghệ nhân đang dệt thổ cẩm tại nhà làng.

Hiện nay, Tà B’hing xác định phải đầu tư phát triển cả trồng trọt lẫn chăn nuôi, đặc biệt chú trọng 3 loại con được xem là mũi nhọn và thế mạnh, phù hợp với Tà B’hing. Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, nhân dân trong vùng đã tiến hành chăn nuôi theo quy mô hộ, trang trại, trọng tâm là chăn nuôi bò thịt chất lượng cao, heo hướng nạc, dê lai.

Từ nguồn vốn của Chương trình 134, 135, địa phương tích cực làm thủy lợi nhỏ nhằm đưa diện tích cây lúa nước vào sản xuất. Kết quả là từ năm 2005 đến nay, Tà B’hing đã tiến hành khai hoang mới 2ha ruộng lúa, nhiều diện tích dần được phục hóa, đưa tổng diện tích trồng lúa chủ động nước tưới trên địa bàn lên 34ha, sản xuất 2 vụ/năm. Chương trình trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc ngày càng thu hút sự hưởng ứng của người dân, bình quân mỗi năm trồng được 30ha rừng phân tán. “Dù Tà B’hing vừa tiến hành chuyển đổi 250ha diện tích lúa rẫy không hiệu quả sang trồng rừng, nhưng tổng sản lượng lương thực có hạt hàng năm tại địa phương tăng bình quân 7,3% (năm 2005 đạt 604 tấn, năm 2010 đạt 803 tấn), đảm bảo lương thực tại chỗ cho người dân trong xã” - Bí thư Alăng Văng nói.

Hiện nay, xã có trên 70% số hộ dân sắm được ti vi, phần lớn gia đình đều có xe gắn máy. Hơn 90% số hộ được sử dụng điện chiếu sáng, khoảng 65% sử dụng nước sạch. Bên cạnh phát triển nông - lâm nghiệp, xã đẩy mạnh hoạt động của ngành tiểu thủ công nghiệp (làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống Zơ Rá), thương mại - dịch vụ (thác Grăng, làng nghề Zơ Rá…). Tất cả hướng đến mục tiêu xóa 49% hộ nghèo còn lại trên địa bàn xã.

Năm 2000, làng Zơ Rá được huyện Nam Giang chọn để phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Mọi sự chuyển biến tích cực cũng bắt đầu từ đây. Hiện toàn thôn không còn hộ đói, số hộ nghèo đã giảm nhiều, 93% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, không sinh con thứ 3 trở lên. Đặc biệt, số trẻ em suy dinh dưỡng giảm xuống chỉ còn 0,6%; 100% trẻ em ra lớp đúng độ tuổi, các trường hợp ốm đau đều được đưa đến cơ sở y tế khám chữa bệnh. Đến nay, làng có 6 em là sinh viên đang theo học các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài tỉnh như Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế Đà Nẵng...

Khám chữa bệnh cho trẻ tại Trung tâm y tế xã Tà B’hing
Già Zơ Râm Len, người cao tuổi của làng Zơ Rá cho biết: “Có được thành quả trên, ngoài nỗ lực của Ban nhân dân thôn là sự nhiệt tình hưởng ứng của đồng bào khi họ ý thức được sự cần thiết phải thay đổi những thói quen tập tục lạc hậu từ bao đời nay để ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế. Dù vẫn còn nhiều khó khăn nhưng so với những năm trước đây thì đời sống đồng bào đã tiến bộ hơn rất nhiều. Một số gia đình đã sắm được xe máy, ti vi, máy xay xát, sử dụng tua-bin phát điện phục vụ sinh hoạt. Làng Zơ Rá đã “hiện đại” lên nhiều rồi!”.

Giữ màu cho nghề dệt

Làng Zơ Rá có khoảng 70 hộ nhưng lại có đến 50 nghệ nhân có tên tuổi về các nghề: dệt thổ cẩm, đan lát, đàn hát, làm nhạc cụ, rèn… Chị Nguyễn Thị Kim Lan (nhóm trưởng của các nghệ nhân Zơ Ra) cười rất tươi cho biết: “Nếu nói cả làng đều là nghệ nhân thì không ai tin. Nhưng đó là sự thực!”.

Chị Lan kể, con gái Zơ Rá khoảng 10 tuổi đã được các bà, các mẹ hướng dẫn cho cách dệt. Đây cũng là tiêu chí để con gái Cơ Tu có thể bước vào nhà chồng. Hiện tại nghệ nhân Zơ Rá đã có thể làm với những đơn đặt hàng đến từ khắp mọi nơi.

Vào nhà làng, nơi các nghệ nhân dệt thổ cẩm Zơ Rá đang miệt mài với sợi, với khung dệt cổ truyền, em Coor Eo (20 tuổi), nghệ nhân trẻ nhất, khéo tay nhất Zơ Ra, mời gọi chúng tôi bên những mối dệt: “Từ nhỏ bà và mẹ đã bày cho em cách dệt để sau này có thể lấy chồng. Đàn ông Zơ Rá cũng phải biết đàn hát, biết chế tác nhạc cụ để tán tỉnh phụ nữ. Những nghệ nhân giỏi sẽ có nhiều con trai đến tán tỉnh nhất”.

Cùng lúc ấy, bà Riah Têêm (50 tuổi) tỉ mẩn từng đường chỉ cũng góp vui với những câu chuyện. Tấm vải thổ cẩm của bà sắp hoàn thành sau hơn hai ngày cật lực làm việc. “Ngày xưa mình dệt để tặng người yêu, bạn bè, người thân. Giờ những tấm vải do tay mình dệt đi nhiều nơi xa lắm, ai cũng thích cả!”.

Cùng với bà Têêm còn có gần 20 người phụ nữ trong làng cần mẫn dệt vải. Tất cả đều làm thủ công, cho ra những sản phẩm tinh xảo và đẹp mắt. Họ tập trung tại nhà Gươl, những thanh gỗ được quấn sau lưng người phụ nữ, lưng và chân thành hai đầu nối các sợi vải tạo thành một khung cửi di động độc đáo chỉ có ở Zơ Ra. Nhiều chị mang theo cả con nhỏ đến quây quần bên nhau để dệt vải và trò chuyện.

Ông Pơ Loong Hon, Chủ tịch UBND xã Tà B’hing hồ hởi nói: “Bây giờ sản phẩm dệt của người dân Zơ Ra đã được xuất khẩu sang Nhật Bản và các nước châu Âu, sau khi có tổ chức phi chính phủ FIDR của Nhật Bản đến hỗ trợ. Nghệ nhân Zơ Ra đã được nhiều nơi biết đến”.

Ông Trần Dư, Trưởng phòng VH-TT huyện Nam Giang cho biết: “Thành công của Tà B’hing qua hơn 10 năm xây dựng đời sống văn hóa không những làm thay đổi cuộc sống đồng bào mà quan trọng hơn đã phục hồi và bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa truyền thống đồng bào dân tộc Cơ Tu. Trong đó sự ra đời của nhóm các nghệ nhân dệt Cơ Tu là điểm sáng nhất. Ngoài ra nhiều nhạc cụ truyền thống như trống, khèn, sáo; các lễ hội mừng lúa mới, mừng gươl mới, lễ đâm trâu… cũng được người dân Tà B’hing gìn giữ và phát huy hiệu quả. Chúng tôi đang xây dựng đề án phát triển làng dệt thổ cẩm thành một điểm du lịch văn hóa hấp dẫn trong thời gian tới”. 

Chiều về với Tà B’hing trong tiết trời lạnh, không gian núi rừng vang vọng tiếng cồng chiêng rộn rã như báo hiệu niềm vui đổi mới... một quãng thời gian không dài và tất cả sự phát triển cũng chưa phải đã toàn diện, nhưng một điều dễ nhận thấy là đời sống người dân Tà B’hing đã vượt lên tầm cao mới. Trong đó, ý thức gìn giữ và phát huy các tinh hoa văn hóa dân tộc luôn được đồng bào trân trọng. Tính cộng đồng làng xã, giúp đỡ nhau những lúc hoạn nạn khó khăn luôn được gìn giữ. Tất cả tạo lập nên một nền tảng tinh thần vững chắc giúp  người dân nơi đây vượt qua khó khăn để tiến lên xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.