Đề án phát triển bể than Đồng bằng sông Hồng:

Hạn chế tác động tiêu cực?

Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam đang trình Thủ tướng Chính phủ Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng (ĐBSH). Đây là đề án đang được các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế cũng như dư luận xã hội hết sức quan tâm

Mỏ than ĐBSH có trữ lượng rất lớn, việc khai thác mỏ than này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, tuy nhiên, dư luận cũng lo ngại những tác động tiêu cực do việc khai thác than mang lại. Đây là nội dung được đề cập trong chương trình Diễn đàn kinh tế, Đài TNVN, phát sóng tuần qua.

Bể than Sông Hồng lớn gấp nhiều lần mỏ than Quảng Ninh

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng (Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam) cho biết, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Năng lượng của Việt Nam hiện nay dựa trên: than, dầu khí và thủy điện. Về thủy điện đã khai thác hầu như gần hết. Còn mỏ than Đông Bắc (Quảng Ninh) nếu khai thác với tốc độ như hiện nay thì chỉ tồn tại trong vòng 20 - 30 năm nữa. Điện nguyên tử cũng là một hướng phát triển nhưng hiện nay chúng ta chưa triển khai được. Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng trong khi nguồn cung giảm, đặc biệt là than dùng cho các nhà máy điện. Vì vậy, việc khai thác mỏ than ĐBSH có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước.

PV: Qua việc thăm dò, ông đánh giá như thế nào về tiềm năng của mỏ than vùng ĐBSH?

Ông Nguyễn Thanh Sơn

Ông Nguyễn Thanh Sơn: Mỏ than ĐBSH đã được tiến hành thăm dò từ năm 1980. Việc phát hiện ra than đầu tiên là từ lỗ khoan thăm dò dầu khí, sau đó mới tổ chức khoan thăm dò riêng về than. Cho đến nay, trên tổng diện tích 3.500km2 vùng than ĐBSH, chúng ta đã khoan 110 lỗ khoan, khoảng 46.233m độ khoan sâu. Tuy việc khoan thăm dò còn ít nhưng đã cho đánh giá tổng quan về mỏ than này: Trữ lượng than lớn, khoảng hơn 210 tỉ tấn. Nếu tiến hành khai thác sẽ thu được khoảng 30 - 35 tỉ tấn, lớn gấp 10 lần mỏ than Quảng Ninh. Than ở đây rất phù hợp cho nhu cầu phát điện vì lưu huỳnh thấp, chất đốt cao. Hơn nữa, do là vùng than chuyển tiếp giữa than nâu và than đá nên khí nổ ít. Tuy nhiên, điều kiện khai thác than ở ĐBSH khó khăn hơn so với khai thác than ở Quảng Ninh, bởi than chủ yếu ở dưới sâu, cách mặt đất từ 150 - 2.000m, địa chất thủy văn vùng ĐBSH phức tạp. Nếu quyết định tiến hành khai thác, chúng ta phải tiến hành thăm dò tỉ mỉ hơn để có được những số liệu cụ thể, chi tiết hơn.

PV: Thưa ông, chi phí để khai thác bể than ở ĐBSH liệu có đảm bảo tính cạnh tranh?

Ông Nguyễn Thanh Sơn: Hai công nghệ chính dự kiến được lựa chọn áp dụng cho việc khai thác bể than ĐBSH là khai thác hầm lò và khí hóa than. Về khai thác hầm lò, suất đầu tư khoảng 45 - 80USD/tấn than, giá thành khai thác khoảng 25 - 40USD/tấn than. So với giá thành khai thác than trên thế giới thì giá thành này chấp nhận được. Nếu giá dầu trên trên thế giới khoảng trên 45USD/thùng thì việc khai thác bể than này đạt hiệu quả cao. Còn sử dụng công nghệ khí hóa lỏng dưới lòng đất sẽ có sản phẩm khí tổng hợp, hoàn toàn cạnh tranh được với khí thiên nhiên. Giá thành khí tổng hợp của chúng tôi dự kiến là 2,5USD/triệu BTU, trong khi giá khí thiên nhiên dùng phát điện là hơn 3 USD/triệu BTU.

PV: Vậy còn những thách thức đặt ra khi tiến hành khai thác mỏ than ở ĐBSH?

Ông Nguyễn Thanh Sơn: Khi đặt vấn đề khai thác mỏ than ĐBSH, quan điểm của chủ đầu tư chúng tôi coi mặt đất và nguồn nước ngầm là đối tượng không được đụng đến. Vì vậy, chúng tôi sẽ lựa chọn công nghệ hiện đại để bảo vệ được tầng nước ngầm và mặt đất (từ trên bề mặt xuống dưới độ sâu 200m). Mặc dù tầng chứa nước ngầm nằm ở độ sâu từ 200m trở lên, trong khi than được khai thác ở độ sâu 200m trở xuống, nhưng việc giữ để nguồn nước ngầm không chảy xuống dưới là cả một thách thức, nếu giữ được nước ngầm là giữ được bề mặt mặt đất. Khi đàm phán với đối tác, chúng tôi đều nêu rõ yêu cầu này. Còn vấn đề chống sụt lún sẽ có rất nhiều giải pháp, ví dụ khai thác than đến độ sâu nhất định để đảm bảo bề mặt đất không bị sụt lún, lựa chọn chiều dày khai thác than tối ưu, hoặc có thể chèn cát chống sụt lún…

PV: Được biết, Công ty Năng lượng Sông Hồng đã tìm kiếm được một số đối tác để tiến hành thăm dò khai thác. Các đối tác đánh giá như thế nào về những khó khăn khi tham gia dự án?

Ông Nguyễn Thanh Sơn: Chúng tôi mời các đối tác từ khâu thăm dò địa chất đến khâu thiết kế và triển khai dự án. Và khi mời đối tác tham gia dự án, chúng tôi cũng đặt vấn đề với đối tác là đây là dự án mang tính chất trình diễn về mặt công nghệ kỹ thuật. Điều các đối tác băn khoăn nhất không phải là về vấn đề kỹ thuật mà là vướng mắc một số thủ tục, nhất là việc đối mặt với Luật Khoáng sản.

Ông Nguyễn Mạnh Quân

* Ông Nguyễn Mạnh Quân, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công thương: Bể than ĐBSH đóng vai trò quyết định đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia

Dự báo nhu cầu than của Việt Nam đến năm 2015 cần đến khoảng 90 triệu tấn, riêng cho điện khoảng 63 triệu tấn. Năm 2020, nhu cầu than cần khoảng 150 triệu tấn, riêng cho điện là 110 triệu tấn. Trong chiến lược phát triển ngành than có tính đến việc khai thác tối đa mỏ than Đông Bắc vì than ở đây chất lượng tốt, điều kiện hạ tầng kỹ thuật sẵn có và đã khai thác 60 - 70 năm nay. Tuy nhiên, dù có khai thác tối đa mỏ than Đông Bắc, đến năm 2015, sản lượng than chỉ đạt được khoảng 65 triệu tấn, đến năm 2020, sản lượng than đạt được khoảng 80 triệu tấn. Vì vậy, trong tương lai, bể than ĐBSH đóng vai trò quyết định trong vấn đề cân bằng năng lượng quốc gia,

 Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam đã đề xuất xin Thủ tướng Chính phủ cho thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư, công tác khảo sát, thăm dò và tiến hành một số thử nghiệm để xác định công nghệ, giải pháp bảo vệ môi trường. Trong Chiến lược phát triển ngành than đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt có nêu rõ, phát triển than ĐBSH phải đảm bảo hài hòa giữa an ninh lương thực với an ninh năng lượng. Khi tiến hành thẩm định đề án khai thác than ĐBSH, một trong những yêu cầu mà Bộ Công Thương đặt ra cho chủ đầu tư là phải tìm kiếm được công nghệ khai thác đảm bảo giữ được đất trồng lúa nước và nguồn nước ngầm.

Ông Nguyễn Trí Ngọc

* Ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT: Việc khai thác phải có thử nghiệm chính xác, bài bản, tránh sự vội vàng

ĐBSH hiện có 560.000ha đất, canh tác được hai vụ. Như vậy, diện tích đất gieo trồng ở ĐBSH là trên 1,1 triệu ha, mỗi năm cho thu hoạch khoảng 6,5 - 7 triệu tấn thóc. Năm 2008, cả nước thu hoạch được 38,6 triệu tấn thóc. Mặc dù, sản lượng thóc hàng năm của ĐBSH không nhiều, tuy nhiên, đây là khu vực đông dân, có tập quán sản xuất nông nghiệp, trong đó có sản xuất lúa nước. ĐBSH được coi là cái nôi văn minh lúa nước của nước ta. Đất của ĐBSH là đất phù sa, càng canh tác đất càng phì nhiêu. Để hình thành đất phù sa phải mất hàng triệu năm. Mặc dù xét về hiệu quả kinh tế do việc trồng lúa mang lại không cao nhưng việc giữ đất có ý nghĩa lớn về mặt xã hội, văn hóa. Việc khai thác than phải được xem xét ở khía cạnh toàn diện nhất. Bởi đất phù sa của ĐBSH kết cấu địa chất không bền vững, khi tiến hành khai thác than, khả năng sụt lún chắc chắn sẽ xảy ra, và sẽ có ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm. Hơn nữa, khai thác theo phương pháp khí hóa lỏng sẽ thải ra khí CO2. Vì vậy, việc khai thác phải có những thử nghiệm chính xác, bài bản, tránh sự vội vàng sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường mà chúng ta không thể khắc phục được.

Vừa qua, Bộ Chính trị đã thông qua đề án an ninh lương thực quốc gia, trong đó nêu rõ đến năm 2020 phải giữ được 3,8 triệu ha đất, trong đó, diện tích đất chuyên lúa nước là 3,2 triệu ha. Đất là tài nguyên vô giá không thể thay thế được, trách nhiệm của mỗi chúng ta là phải bảo vệ đất. Các địa phương ở ĐBSH là những tỉnh thuần nông, chuyên trồng lúa nên rất nghèo. Tâm tư của mọi người đều mong muốn đất nước, địa phương mình thoát nghèo, mà cách thoát nghèo tốt nhất là đẩy mạnh CNH - HĐH. Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế, tiến trình CNH - HĐH đất nước phải có lộ trình, có bước đi phù hợp mang lại sự bền vững cho đất nước./.

Toàn bể than rộng 10.000km2, vùng chứa than tập trung khoảng 3.500km2, vùng chứa than nhiều nhất, tốt nhất khoảng 2.000km2. Tiềm năng than ở ĐBSH khoảng 210 tỷ tấn (Hưng Yên 8,5%, Nam Định 1,5%, Thái Bình 90%). Than thuộc bể than ĐBSH thuộc loại than lò hơi (steaming coal), được đánh giá là rất tốt để phát điện. Loại than này còn có thể dùng để điều chế ra các sản phẩm, nguyên liệu khác, đặc biệt là metanol, xương sống của ngành công nghiệp hóa chất

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.