Kỳ 2: Chuyến đi đầu tiên
Trên con thuyền nhỏ, 6 chiến sĩ kiên trung đã nhổ neo ra khơi với 5 tấn vũ khí, dù không thành công nhưng đây là chuyến đi mở đầu cho con đường huyền thoại
Sau 5 tháng “diễn tập” cho cuộc vượt biển, chập tối một ngày mùa đông giá rét năm 1960, thuyền của Đại đội 1, Tiểu đoàn 603 đã nhổ neo rời bến. Đây là chuyến vượt biển đầu tiên từng bước khai phá ra con đường huyền thoại trên biển mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.
![]() |
|
Các chiến sĩ đoàn tàu không số tỉnh Bến Tre (Ảnh tư liệu) |
Xuất quân đêm Giao thừa
Chiều tối ngày 27/1/1960, gió mùa Đông Bắc tràn về, Sông Gianh ì oạp sóng vỗ. “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” rời vị trí, tiếp nhận 5 tấn vũ khí, thuốc men chi viện cho chiến trường quân khu 5. Địa điểm cập bến là Bến Hồ Chối phía chân đèo Hải Vân.
Để tuyệt đối giữ bí mật về phương thức vận chuyển vũ khí trên biển, Tiểu đoàn 603 đưa ra hai phương án tác chiến. Thứ nhất, nếu đưa được hàng vào bến, bốc dỡ xong sẽ phá tàu rồi đi theo đường bộ trở về đơn vị. Thứ hai, nếu lạc đường, lạc hướng thì thả hàng xuống biển để giữ bí mật. Trong trường hợp bị địch phát hiện, bao vây thì cho phép nổ mìn phá tàu và hy sinh.
Chiếc thuyền nhỏ bé của Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 603 nhổ neo lúc 18 giờ chiều 30 Tết Canh Tý. 6 người trên con tàu nhỏ bé ấy gồm Đại đội trưởng Nguyễn Bất làm thuyền trưởng, Trần Mức làm thuyền phó, 4 thành viên còn lại là Huỳnh Ba, Nguyễn Sơn, Nguyễn Sinh và Nguyễn Ngữ. Tất cả lúc đó đều ở lứa tuổi từ 19 - 23.
Chỉ còn 6 tiếng đồng hồ nữa là đến Giao thừa, nhưng tất cả đều quyết tâm ra đi, không ai nấn ná ở lại đón Giao thừa cùng gia đình, dù biết chuyến đi sẽ gặp muôn và khó khăn gian khổ và có thể phải hy sinh. Đại đội trưởng Nguyễn Bất nói với anh em: “Cuộc vượt biển giữa đêm 30 Tết này là mệnh lệnh trái tim người lính. Tiền tuyến đang chờ chúng ta, cả miền Nam đang mong đợi chúng ta, các đồng chí hãy nén việc riêng mà hoàn thành nhiệm vụ”. Lời nói của Bất như đòn bẩy thúc giục thêm trong tim mỗi người lòng yêu nước. Họ quyết tâm ra đi mà không hề tính toán, nghĩ suy. Nắm chặt tay nhau trước khi giong thuyền ra khơi, 6 người thề giữ vững chí khí chiến đấu, nếu bị địch bắt dù phải hy sinh cũng không được xưng khai.
Sau hơn 6 giờ hành trình, được chừng gần 20 hải lý, bất ngờ thuyền gặp sóng to, gió bão. Toàn bộ buồm cánh bị xé toạc. Đáy thuyền bị thủng, nước biển tràn vào khoang. Đúng lúc đó, thuyền bị địch phát hiện. Không thể để hàng rơi vào tay giặc và lộ con đường bí mật, thuyền trưởng Nguyễn Bất đã quyết định phi tang 5 tấn súng đạn và thuốc men xuống biển và dìm thuyền. Địch ập tới, 6 thủy thủ của ta bị bắt. Chúng đưa đi giam ở các nhà lao khác nhau để khai thác thông tin. Lời thề quyết không khai và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng được các chiến sĩ kiên trung giữ trọn. Tại các nhà giam này, 5 thủy thủ đã hy sinh, nhưng tuyến đường vận tải trên biển vẫn được giữa bí mật tuyệt đối.
Sau chuyến đi đầu tiên không thành ấy, Quân ủy Trung ương nhận thấy việc dùng thuyền gỗ, chạy bằng buồm, chở vũ khí vào chiến trường có rất nhiều khó khăn và không an toàn, vì vậy Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Tiểu đoàn 603 tạm ngừng hoạt động để tìm một phương thức vận chuyển mới.
![]() |
Những chuyến tàu huyền thoại
Trong khi chờ phương thức mới vận chuyển vũ khí từ miền Bắc bằng đường biển vào miền Nam, Trung ương Đảng đã chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ chuẩn bị bến bãi và cho thuyền ra miền Bắc, vừa thăm dò, mở đường, vừa nghiên cứu phương tiện vận chuyển trên biển và báo cáo tình hình, nếu có điều kiện thì chở vũ khí về.
Cuối năm 1961, đầu năm 1962, tỉnh Bến Tre đã tổ chức hai đội tàu. Đội tàu thứ nhất do đồng chí Đặng Bá Tiên (Sáu Giao) làm đội trưởng. Sau 9 ngày đêm vật lộn với sóng gió và né tránh sự kiểm soát của địch, ngày 9/6/1961, thuyền đã chở 6 anh em cập vào Hà Tĩnh. Đội tàu thứ hai do đồng chí Lê Công Cẩn (Năm Công) phụ trách, ngày 28/8/1961, thuyền cập vào Thanh Hoá, đó là chuyến tàu huyền thoại thứ nhất.
Chuyến tàu huyền thoại thứ hai xuất phát từ tỉnh Bạc Liêu (còn gọi là đội thuyền Cà Mau) với hai đội thuyền ra Bắc. Đội thuyền thứ nhất do đồng chí Bông Văn Dĩa (Hai Dĩa) phụ trách. Ngày 7/8/1961, thuyền cập cửa sông Nhật Lệ (Quảng Bình). Đội thuyền thứ hai do đồng chí Nguyễn Thanh Trầm (Tư Lưới) phụ trách. Ngày 3/8/1961 thuyền xuất phát, nhưng khi đi ngang qua Huế, thuyền đã bị thủng và nước tràn vào, phải quay trở lại Trà Vinh để sửa chữa.
Chuyến tàu huyền thoại thứ ba của tỉnh Trà Vinh xuất phát ngày 16/8/1961 do đồng chí Hồ Văn In (Bảy Thắng) làm đội trưởng, đồng chí Nguyễn Thanh Lồng (Hai Tranh) làm Chính trị viên. Khi ra tới Nha Trang, gặp bão, phải dạt sang Ma Cao (Trung Quốc) sau đó tiếp tục đi. Ngày 15/8/1961, tàu bị bộ đội Biên phòng Trung Quốc giữ và kéo về Du Hải - Quảng Châu. Ngày 16/8/1961 đại diện Đại sứ quán Việt Nam đón và anh em được đưa về Hà Nội.
Chuyến tàu huyền thoại cuối cùng ra tới miền Bắc ngày 15/5/1962 là thuyền của tỉnh Bà Rịa do đồng chí Nguyễn Sơn (Nguyễn Văn Phe) xã đội trưởng xã Phước Hải làm đội trưởng, đồng chí Lê Hà (Lê Văn Mây) làm đội phó. Đóng góp cho chuyến đi này có 10 cây vàng của bà má Nguyễn Thị Mười (Mười Riều). Ngoài việc ủng hộ vàng mua thuyền, má Mười Riều còn gửi gắm đứa con trai yêu thương Lê Hà làm thủy thủ tàu. Đến Cam Ranh, tàu bị địch bắt. Sau khi khai thác hơn một tháng không được gì, tàu được thả. Phải bán lưới để mua xăng dầu. Ngày 19/4/1962, 6 chiến sĩ trên con tàu ấy tiếp tục lên đường. Sau khi dạt vào đảo Hải Nam, ngày 15/5/1962, đoàn được Thủ tướng Phạm Hùng đón về đến Hà Nội.
Ông Nguyễn Văn Đức (Ba Đức), sinh năm 1941, thủy thủ tàu Bến Tre, hiện là Phó ban liên lạc Cựu chiến binh Đoàn tàu không số TP HCM nhớ lại: “Bến Tre là nơi khởi đầu phong trào đồng khởi, cũng là nơi cho những con tàu huyền thoại nối tiếp nhau vượt biển ra Bắc. Những năm ấy, các tàu của ta đi điều kiện bị phong tỏa cả đường thủy, đường bộ, thiếu thốn vũ khí, thuốc men, nhưng đi đến đâu được nhân dân hết lòng ủng hộ đến đấy. Những năm ấy, thanh niên trai tráng chúng tôi tràn đầy sức sống, lòng phơi phới niềm tin phong trào cách mạng. Điều kiện thiếu thốn, công tác chuẩn bị sơ sài vì không đủ tiền, không có la bàn, hải đồ, thuyền thì nhỏ bé nhưng tất cả đều xác định tốt nhiệm vụ và sẵn sàng hy sinh, ra đi không hẹn ngày trở lại, không ai tính toán suy nghĩ gì”.
Để tiếp tục vận chuyển vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam và phát huy nội lực của các thủy thủ, ngày 23/10/1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định thành lập Đoàn vận tải thuỷ có nhiệm vụ chi viện vũ khí cho miền Nam bằng đường biển mang tên Đoàn 759 - tiền thân của Lữ đoàn 125 ngày nay. Đoàn 759 ra đời với mật hiệu “Đoàn tàu không số” với sứ mệnh mới./.
Kỳ 3: Trinh sát mở đường

