Kỷ niệm về một thời chiến đấu trên tàu không số

Dưới mưa bom bão đạn, đoàn tàu không số vẫn hiên ngang chở vũ khí, đạn dược cho chiến trường miền Nam, góp phần vào đại thắng của dân tộc

Với nhiệm vụ nguỵ trang giả thuyền đánh cá, đoàn tàu không số đã chở hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược vượt qua bão đạn, mưa bom, chi viện cho chiến trường miền Nam. Những chiến sĩ của đoàn tàu không số là hiện thân của lòng quả cảm, sẵn sàng hy sinh quên mình cho ngày đại thắng.

Đoàn tàu không số chuyển vũ khí, đạn dược cho chiến trường miền Nam (Ảnh tư liệu)

Chuyến hàng đầu tiên

“Là chính trị viên của đoàn tàu không số, tôi cùng đồng đội có 9 lần vận chuyển vũ khí, đạn dược vào các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trà Vinh, Quảng Ngãi phục vụ chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Nhiều lần chạm trán với quân địch, nhưng chúng tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Dưới mưa bom bão đạn, đoàn tàu không số vẫn hiên ngang chở vũ khí, đạn dược cho chiến trường miền Nam, góp phần vào ngày đại thắng”, ông Trần Ngọc Tuấn, nguyên chính trị viên của đoàn tàu không số năm xưa mở đầu câu chuyện với chúng tôi bằng kỷ niệm về một thời gian khổ, nhưng cũng đầy vinh quang đó.

Trong căn nhà nhỏ ở thành phố Nha Trang, ông Trần Ngọc Tuấn vui mừng đón chúng tôi. Ông cười bảo: “Cứ mỗi lần có nhà báo đến là tôi vui lắm, vì được kể chuyện chiến đấu cho các nhà báo nghe. Đã hơn 40 năm rồi, ký ức về những ngày chiến đấu oai hùng đó vẫn vẹn nguyên trong tôi”. Nhấp ngụm nước trà, ông đăm chiêu nhìn ra khoảng sân trước nhà như nhớ về quá khứ của một thời hoa lửa.

“Các chú biết không? Ngày ấy nói đến đi đánh giặc là sướng lắm. Đi xác định là chết nhưng vẫn thích đi. Khi ta giành thắng lợi, cảm giác sung sướng vô cùng”, ông Tấn hồi tưởng lại.

Ông Tuấn (thứ 2 từ phải sang) trong buổi giao lưu Hành trình những con tàu không số

Ngày 23/10/1962, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định thành lập Đoàn 759 với mật hiệu là “Đoàn tàu không số”, có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, bí mật vận chuyển vũ khí đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường biển.

Đêm 11/10/1962, trên con tàu gỗ, Trần Ngọc Tuấn và những đồng đội của ông chở đầy vũ khí xuất phát từ cảng Hải Phòng qua 6 ngày đêm thì đến bến Văn Lũng (Cà Mau). Đây là chuyến chở đầu tiên. Với vỏ bọc là ghe của ngư dân đánh cá trên sông lạch, những chiếc tàu của đoàn tàu không số đã nguỵ trang, ngày trú ẩn, đêm hành quân, chở hàng chục chuyến vũ khí đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ.

Biết ta chở vũ khí đạn dược, địch thành lập “lực lượng đặc nhiệm 115”, huy động lực lượng Hạm đội 7 và lực lượng quân nguỵ, với các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất như máy bay, tàu thủy tuần tra, ném bom ngày đêm trên vùng biển chúng nghi ngờ, hòng chặn sự chi viện của ta.

Tháng 3/1968, tàu mang mật danh 43 của ông Tuấn được giao nhiệm vụ “chở hàng” đến Đức Phổ, Quảng Ngãi. Lúc đó ông là chính trị viên, Nguyễn Đắc Thắng là thuyền trưởng. Khi tàu của ông hành quân vào cửa biển Quảng Ngãi thì bị máy bay địch phát hiện. Lợi dụng lúc chúng nghi ngờ, thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng đã cho tàu thả trôi và chỉ huy anh em ra lan can câu cá để đánh lạc hướng chúng, sau đó cho tàu chạy lòng vòng trên biển, mãi đến đêm thứ 3 mới vào được vùng biển Quảng Ngãi.

Khi cách bến 15 hải lý, thì 2 chiếc tàu chiến của địch bất ngờ xuất hiện phía trước. Chúng đánh tín hiệu hỏi: “Các anh là ai?”, “Chúng tôi là dân đánh cá”. Bỗng một vệt sáng loé chớp phía mũi tàu kèm theo những tiếng nổ đanh, tàu địch bắn xối xả vào tàu 43 và bao vây hòng bắt sống thuyền trưởng và các chiến sĩ. Thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng lệnh “Tất cả về vị trí chiến đấu. Chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Quyết tâm giữ tàu”.

Trên trời máy bay địch ném bom, dưới biển tàu địch bắn xối xả. Tiếng súng DKZ, đại liên của ta bắn thẳng vào tàu địch, mặt biển sôi sục. Quyết không để chúng làm càn, thuyền trưởng Thắng hạ lệnh “Tiêu diệt máy bay”. Làn đạn đanh thép từ nòng súng cao xạ 12,7 ly do xạ thủ Nguyễn Văn Tiến chỉ huy đã bắn rơi một máy bay HD-1A của địch đâm xuống biển, bùng cháy sáng đỏ một góc trời. Cùng lúc đó, một tiếng nổ lớn đinh tai nhức nhóc phía trái tàu, chiếc tàu địch bốc cháy và dần dần chìm xuống biển. Trong cơn nguy kịch, thuyền trưởng Thắng đã hạ lệnh nhanh chóng chuyển thương binh, tử sĩ xuống thuyền của dân đưa vào bờ và huỷ tàu chứ nhất định không để vũ khí, đạn dược rơi vào tay giặc.

Ông Tuấn với cuộc sống thường ngày

Nhớ ơn người dân thôn Quy Thiện

Ông Tuấn dừng lại giây lát như hồi tưởng lại những ngày ông cùng đồng đội được bà con thôn Quy Thiện, xã Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi chở che đùm bọc. Ông kể tiếp: “Sau khi chúng tôi đưa thương binh, tử sĩ bơi vào bờ, được bà con thôn Quy Thiện cứu giúp. Nằm trong bồ thóc, núp dưới đống rơm, dưới phân chuồng trâu mà trong lòng căm phẫn thằng giặc quá. Chúng lùng sục khắp nơi. Tiếng dầy đinh chúng dậm rầm rập trên nắp hầm bí mật. Tôi cùng đồng đội nằm dưới hầm trong tình trạng bị thương suốt 10 ngày đêm, mọi thứ ăn, uống đều do bà con giúp đỡ. Khi lùng sục không thấy gì, chúng bỏ đi. Chúng tôi được bà con địa phương đưa đi bệnh xá của chị Đặng Thùy Trâm vào ban đêm, nhưng 2 lần đều gặp địch tuần tra kiểm soát, đến đêm thứ 3 thì lọt. Tôi sống được là nhờ chị Trâm và các y tá ở bệnh xá Bắc Mười. Bà con Quy Thiện tốt lắm, thương bộ đội lắm”.

Sau khi được bà con thôn Quy Hiệp xã Phổ Hiệp cứu chữa lành vết thương, ông Tuấn cùng đồng đội vượt rừng Trường Sơn trở về đơn vị nhận nhiệm vụ mới. Ngày chia tay, bà con thôn Quy Thiện bịn rịn tiễn chân. Ông Tuấn là người sau cùng được chị Đặng Thùy Trâm. Nắm chặt tay, chị căn dặn: “Nhớ gửi lời tới hậu phương. Hẹn gặp các đồng chí trong ngày thống nhất”, rồi chị bật khóc./.

Mai Thắng (ghi theo lời kể của ông Trần Ngọc Tuấn, nguyên chính trị viên đoàn tàu không số)

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.