Bộ Công thương thực hiện Quyết định 64

Các cơ sở thuộc Bộ Công thương là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, không phải là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích do đó nguồn vốn cho công tác di dời, xử lý ô nhiễm không thể chỉ trông chờ vào nguồn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước

Theo số liệu thống kê của Ban chỉ đạo thực hiện Quyết định 64, có nhiều doanh nghiệp thuộc Bộ Công thương quản lý đã cơ bản đáp ứng được tiến độ đề ra trong Quyết định 64 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Phần lớn các đơn vị này đều thuộc những ngành sản xuất có thế mạnh, như điện lực, các công ty có vốn đầu tư liên doanh với nước ngoài, hoặc các doanh nghiệp chế biến thực phẩm với năng lực sản xuất tốt, kinh doanh có lãi… hoặc doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu buộc phải vượt qua được những rào cản về môi trường của thị trường tiêu thụ sản phẩm.         

Một số đơn vị sau khi thực hiện các biện pháp nâng cấp, đổi mới công nghệ, xử lý ô nhiễm đã đạt được những tiến bộ rõ rệt. Nhà máy lưới thép Bình Tây, sau khi lắp đặt 2 hệ thống xử lý khí thải từ lò nung thép và 2 hệ thống xử lý hơi axitclohiđríc, kết quả là đã loại bỏ được 90% chất ô nhiễm trong khí thải, nồng độ các chất ô nhiễm như axitclohiđríc, bụi, SO2, các bon trong khu vực sản xuất và không khí xung quanh đều nằm trong giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam. Do hệ thống xử lý khí thải của Công ty Tôn Phương Nam đã được đưa vào vận hành nên các thông số bụi, SO2,… đều đạt tiêu chuẩn cho phép, riêng axitclohiđríc chưa đáp ứng được tiêu chuẩn thải, công ty đã xử lý bằng phương pháp hấp thụ qua lớp vật liệu đệm, nâng chiều cao ống khói,.. và kết quả về cơ bản đã xử lý được ô nhiễm không khí. Đối với Nhà máy lưới thép Tân Thuận, sau khi hệ thống lọc bụi cho lò luyện thép của phân xưởng luyện đi vào hoạt động và hoàn thành việc cải tạo, sửa chữa lại hệ thống hút, xử lý bụi, kết quả chất lượng không khí đã được nâng lên đáng kể do giảm được 50 đến 70% khí thải. 

Còn tại Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại, công ty đã tiến hành thay mới và đại tu định kỳ các hệ thống lọc bụi tĩnh điện như hệ thống chỉnh lưu, hệ thống điện cực phóng và điện cực lắng, cơ cấu gõ điện cực và thay mới 8 hệ lọc bụi tĩnh điện của 4 lò hơi dây chuyền I. Các kết quả kiểm tra cho thấy, hàm lượng bụi ở khu vực sản xuất cũng như khu vực xung quanh đều nằm trong giới hạn cho phép. Ngoài ra, Côn ty còn thực hiện các biện pháp hỗ trợ khác để giảm thiểu ô nhiễm bụi trong khu vực sản xuất và khu vực xung quanh như sửa chữa và lắp khung kính che chắn các đường băng tải vận chuyển than, tăng cường các biện pháp để cải thiện các điều kiện vệ sinh công nghiệp, thu gom rác bụi hàng ngày đảm bảo các xưởng sản xuất, khu vực công cộng, sân bãi, đường xá luôn sạch sẽ.

Mặc dù đã đạt được một số kết quả tích cực, song phần lớn các doanh nghiệp còn lại đều gặp khó khăn trong quá trình sản xuất, kinh doanh, năng lực cạnh tranh thấp, nguồn vốn cho di dời, xử lý ô nhiễm là một áp lực lớn đối với các doanh nghiệp, nên việc thực hiện Quyết định 64 của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp đã xây dựng dự án, nhưng chưa thể thực hiện được. Ngoài ra, do chưa có cơ chế chính sách về chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hỗ trợ lao động, hỗ trợ vốn, chính sách ưu đãi về thuế,… nên việc thực hiện của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Đây cũng chính là nguyên nhân gây nên sự chậm chễ thực hiện Quyết định 64 của các doanh nghiệp. Công ty Liên doanh kính nổi Việt Nhật (nay là Công ty TNHH kính nổi Việt Nam) là một ví dụ điển hình. Mặc dù theo bản kế hoạch của Chính phủ, đến năm 2006 Công ty phải xử lý triệt để khí thải và nước thải, nhưng cho đến nay công ty vẫn chưa xây dựng hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường.

Do các cơ sở thuộc Bộ Công thương là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, không phải là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích do đó nguồn vốn cho công tác di dời, xử lý ô nhiễm không thể chỉ trông chờ vào nguồn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước như các cơ sở bệnh viện, bãi rác, kho thuốc trừ sâu… Vì vậy Bộ Công thương cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với các Tổng công ty, Công ty và các Viện, Trung tâm nghiên cứu và bảo vệ môi trường thuộc Bộ tạo thành mối quan hệ chặt chẽ giữa các cơ quan lãnh đạo, tư vấn, thực hiện, giúp các doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, đặc biệt là các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật,… xử lý môi trường công nghiệp./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.