Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại ra khỏi danh sách gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Sau nhiều năm nghiên cứu, tiến sĩ Nguyễn Hồng Quyền, Viện khoa học vật liệu đã tìm ra giải pháp biến chất thải của Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại thành loại vật liệu xây dựng.
Nhà máy điện Phả Lại- nay là Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại được thành lập từ những năm 1980 của thế kỷ trước. Sau nhiều năm vận hành dây truyền I, các thiết bị, đặc biệt là hệ thống lọc bụi tĩnh điện đã bị xuống cấp, hiệu suất lọc bụi kém gây ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy công ty đã có tên trong Quyết định 64 ngày 22/04/2003 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vậy trong hơn 5 năm qua, công ty đã thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm như thế nào?
Cùng với sự phát triển của đất nước, nhiều nhà máy điện lớn ra đời, đến nay, Nhiệt điện Phả Lại trở thành một trong những nhà máy cung cấp điện có hiệu quả của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam. Vào những năm cuối thập kỷ 80 và những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, do nguồn điện thiếu, nên nhà máy Nhiệt điện Phả Lại phải vận hành hết công suất, thêm vào đó vật tư khan hiếm, đắt đỏ, không có điều kiện để củng cố, phục hồi hay sửa chữa, thay thế, nên thiết bị xuống cấp nghiêm trọng, nhà máy phải vận hành trong tình trạng giá thành sản xuất cao, hiệu suất hệ thống lọc bụi kiểu nước chỉ còn 40-50% giá trị sử dụng, khói bụi thải ra đã gây ô nhiễm môi trường ở Quế Võ, Bắc Ninh và một số vùng phụ cận hết sức nghiêm trọng. Kết quả giám sát môi trường của Công ty cho thấy, trong khu vực sản xuất, phân xưởng cung cấp nhiên liệu và khu vực xung quanh theo chiều gió hàm lượng bụi vẫn vượt tiêu chuẩn cho phép. Nguyên nhân là do tổ máy số 5 của dây truyền II vận hành từ năm 2001 và tổ máy số 6 vận hành năm 2002 trong điều kiện các hệ thống lọc bụi, hệ thống khử SO2 chưa sẵn sàng hoạt động đồng bộ. Do vậy đã làm phát tán bụi ra môi trường xung quanh. Để khắc phục vấn đề này, công ty đã tiến hành thay mới và đại tu định kỳ các hệ thống lọc bụi tĩnh điện như hệ thống chỉnh lưu, hệ thống điện cực phóng và điện cực lắng, cơ cấu gõ điện cực và thay mới 8 hệ lọc bụi tĩnh điện của 4 lò hơi dây chuyền I. Các kết quả kiểm tra cho thấy, hàm lượng bụi ở khu vực sản xuất cũng như khu vực xung quanh đều nằm trong giới hạn cho phép. Ngoài ra, Côn ty còn thực hiện các biện pháp hỗ trợ khác để giảm thiểu ô nhiễm bụi trong khu vực sản xuất và khu vực xung quanh như sửa chữa và lắp khung kính che chắn các đường băng tải vận chuyển than, tăng cường các biện pháp để cải thiện các điều kiện vệ sinh công nghiệp, thu gom rác bụi hàng ngày đảm bảo các xưởng sản xuất, khu vực công cộng, sân bãi, đường xá luôn sạch sẽ.
Theo thống kê, mỗi ngày Nhà máy Nhiệt điện Phả lại 1 và 2 xả lượng chất thải tro bay tương đối lớn vào môi trường, trong khi đó nhà máy chỉ có hai hồ chứa sâu mấy chục mét. Do vậy, giải pháp nào để tận thu lượng tro bay này? Sau nhiều năm nghiên cứu, tiến sĩ Nguyễn Hồng Quyền, Viện khoa học vật liệu đã tìm ra giải pháp biến chất thải của Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại thành loại vật liệu xây dựng. Trong công nghệ vật liệu xây dựng, tro bay được đánh giá cao bởi đó là một phụ gia đặc biệt cho bê-tông, có thể thay thế 20% xi-măng trong bê-tông. Tại Nhà máy chế biến tro bay Nhiệt điện, tro xỉ được hút từ dưới hồ thải lên, qua trạm tuyển nổi để tách thành hai phần: tro bay và than. Chỉ sau vài tiếng qua tuyển nổi, tro bay đã đông đặc lại, được đưa sang hệ thống sấy và đóng bao, ra thành phẩm. Công nghệ tuyển ướt có ưu điểm là thu được toàn bộ tro bay đã sấy, đồng nghĩa với việc giải quyết được vấn đề môi trường. Tại nhà máy, tiến sĩ Quyền cùng các đồng nghiệp đã đưa ra các giải pháp bao gồm: Sấy bằng lò quay đốt gián tiếp, lò quay đốt trực tiếp và đã đáp ứng được việc cung cấp tro bay cho xây dựng công trình Thủy điện Sơn La với công suất 13.000 tấn/tháng (17 lò sấy).
Theo Quyết định 64 của Thủ tướng Chính phủ Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại phải đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải nhiễm dầu. Từ khi dây chuyền I đi vào hoạt động, toàn bộ nước thải nhiễm dầu của nhà máy không được xử lý, sau khi lắng đọng và hớt sơ bộ lớp dầu nổi, nước còn nhiễm dầu được thải thẳng ra sông Thái Bình. Đến tháng 10 năm 2001, Công ty đã khởi công xây dựng và lắp đặt hệ thống xử lý nước thải nhiễm dầu do Công ty thiết kế công nghiệp hóa chất, Tổng công ty hóa chất Việt Nam cung cấp thiết bị và lắp đặt hệ thống xử lý. Các dòng nước thải nhiễm dầu ở khu vực lầu chính, khu vực nhà dầu ma dút, hố đọng nhà dầu ma dút, nước tràn từ các bể lắng dầu được đưa về bể phân phối để tách dầu. Dầu tách ra được chuyển sang bể nhận và bể thu dầu và được đưa lên bể chứa dầu thu hồi. Nước sau khi tách dầu vẫn còn một lượng nhỏ dầu được đưa vào bể trung gian, bể hấp thu, phần dầu còn lại được tách ra và chuyển trở lại bể phân phối tiếp tục xử lý. Hệ thống xử lý nước thải nhiễm dầu đã hoạt động liên tục và có hiệu quả. Với những nỗ lực trong giảm thiểu ô nhiễm môi trường , ngày 16 tháng 4 vừa qua, Công ty đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương chứng nhận đã hoàn thành và thực hiện các biện pháp xử lý triệt để theo Quyết định số 64 ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đưa Công ty ra khỏi danh sách 4295 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn cả nước./.