Thước đo tính bền vững của thủy điện
Văn kiện “Đánh giá tính bền vững của thuỷ điện” do Hiệp hội Thủy điện Quốc tế chủ trì soạn thảo được kỳ vọng sẽ là một công cụ đánh giá một cách hệ thống về tính bền vững của các dự án thủy điện
Ngày 14/11, tại Vĩnh Phúc, mạng lưới Cộng tác vì nước Việt Nam (VNWP), Tổ chức Nước - Môi trường và sinh kế (M-POWER) và Chương trình Thách thức Nước và Lương thực đồng tổ chức Hội thảo: Giới thiệu, lấy ý kiến góp ý hoàn thiện cho Dự thảo văn kiện “Đánh giá tính bền vững của thuỷ điện”.
Dự thảo được kỳ vọng khi hoàn thành sẽ là một công cụ đánh giá một cách hệ thống, khách quan hiệu quả về tính bền vững của các dự án thủy điện trong bối cảnh các nước xây dựng thủy điện ngày một nhiều.
Theo thống kê của Viện Năng Lượng (Bộ Công thương), thuỷ điện hiện đảm bảo 18% năng lượng điện tiêu thụ toàn cầu. So với các loại hình khác như năng lượng hạt nhân, nhiên liệu hóa thạch, năng lượng tái tạo... thì thủy điện được coi là nguồn năng lượng có giá thành rẻ và bền vững hơn. Vì vậy, trên thế giới hiện có 45.000 con đập thủy điện lớn (còn đập thủy điện nhỏ thì không thống kê chính xác được).
Các đập thủy điện lớn không chỉ tạo điện năng, tạo lợi ích kinh tế mà chúng còn tạo nên vô vàn những tranh cãi. Các chính phủ và các công ty năng lượng nhìn nhận khả năng chuyển dòng chảy của nước thành điện năng như một nguồn lợi giá trị kinh tế. Nhưng các nhà phản biện thì cho rằng các đập lớn của thuỷ điện luôn đi kèm với các tác động tiêu cực nghiêm trọng liên quan đến hệ sinh thái và người dân dễ bị tổn thương và thường không giải quyết được. Đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tài nguyên nước ngày càng khan hiếm, việc xây dựng nhiều thủy điện trên cùng một lưu vực sông sẽ dễ xảy ra một cuộc chiến tranh về tài nguyên nước.
![]() |
|
Đập thủy điện Hòa Bình |
Bà Helen, điều phối viên Diễn đàn cho biết: Dự thảo văn kiện gồm một loạt các chỉ dẫn thiết thực cho phép các dự án thuỷ điện (các dự án hiện có và các dự án trong quy hoạch) đánh giá lại, nhìn nhận lại, sửa đổi bổ sung để thỏa mãn nhu cầu của các bên liên quan. Dự thảo được chia thành 4 phần, áp dụng cho các giai đoạn khác nhau trong cả vòng đời một nhà máy thủy điện. Bắt đầu là (1) đánh giá chiến lược các dự án cung cấp năng lượng và dịch vụ nước; (2) chuẩn bị các dự án thuỷ điện (tức là thực hiện các nghiên cứu và kế hoạch khác nhau trước khi trao các hợp đồng xây dựng); (3) thực hiện các dự án thuỷ điện; (4) vận hành các dự án thuỷ điện. Mỗi phần nêu ra các vấn đề (kinh tế, xã hội, môi trường và chính trị). Theo bà Helen, cho dù các phần được xây dựng có gắn kết chặt chẽ với nhau, nhưng chúng cũng được thiết kế để được sử dụng như một đánh giá độc lập.
Tại Hội thảo, ông Tiran, Đại học Chieng Mai (Thái Lan) nhận xét: “Một hạn chế rõ ràng là độ dài và tính phức tạp của văn kiện (đặc biệt là phần 2, 3, 4). Nó làm hạn chế sự tham gia của cộng đồng, cũng như hạn chế việc áp dụng rộng rãi của văn kiện”. Ông Tiran cũng cho rằng, trong khi mục tiêu nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải đánh giá rộng khắp, nhưng văn kiện lại không đề cập việc đánh giá này cần được quản lý như một tiến trình xã hội. “Các chính phủ và các nhà đầu tư nắm giữ nguồn thông tin quan trọng. Vậy cơ chế nào để đảm bảo các kết quả đánh giá được công bố cho công chúng. Văn kiện cũng cần đề xuất cơ chế đảm bảo cho bên thú 3, những người mong muốn sử dụng văn kiện có thể tiếp cận các nguồn chứng cứ quan trọng”, ông Tiran nói.
Ông Phạm Ngọc Tú, Viện trưởng Viện Code cho rằng, văn kiện cũng nên giải thích rõ ràng một số điểm: “Trong nguyên tắc chấm điểm có ghi 5 thang điểm (rất kém - kém - tốt - rất tốt - hoàn hảo), vậy thang điểm nào thì qua, thang điểm nào thì không qua? Tính ứng dụng vào thực tế như thế nào? những đóng góp của công chúng liệu có được thực sự xem xét không? Việc áp dụng văn kiện như thế nào? Ai là người áp dụng? Văn kiện có được lồng vào chiến lược thủy điện quốc gia hay không…”. Ông Tú cũng đề nghị : WB va ADB là hai ngân hàng tổ chức cho vay tiền để xây dựng nhà máy thủy điện ở Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới, vì thế, cũng nên có chế tài bắt buộc WB và ADB chấp nhận những điều kiện của văn kiện này.
Bà Helen, điều phối viên Diễn đàn thừa nhận, văn kiện còn nhiều thiếu sót cần lấy ý kiến hoàn chỉnh. Việc xây dựng và đưa văn kiện vào triển khai là một quá trình dài. “Chúng tôi cũng nhận thấy vấn đề quan trọng và thách thức là làm sao đưa ra những thuật ngữ đơn giản dễ hiểu”, bà Helen nói. Liên quan đến câu hỏi với thang chấm điểm, vậy mức nào đựoc thông qua, mức nào thất bại, bà Helen cho biết, văn kiện này không đề cập mà chỉ đưa ra tiêu chí để các lĩnh vực khác nhau, các ngành khác nhau tham khảo, đánh giá lợi ích tác động. Có thể ngành này chấp nhận mức này, ngành khác lại không.
Tại Hội thảo, ông Đào Trọng Tứ, ủy viên thường trực Mạng lưới cộng tác vì nước của Việt Nam nhận định: Thủy điện có thể được coi là một nguồn năng lượng tái tạo, thải ra rất ít khí nhà kính so với các phương thức sản xuất điện khác. Tuy nhiên, khi phát triển thủy điện phải tính đến yếu tố cân bằng gồm: kinh tế, xã hội và môi trường. Ở Việt Nam hiện nay chỉ chú ý đến kinh tế nhiều hơn mà chưa chú ý đến yếu tố xã hội và môi trường. Việc chúng ta làm ngày hôm nay là phát triển nhiều thủy điện, nhưng chưa tính đến yếu tố “để dành” cho thế hệ sau. Nhiều thủy điện chưa tính đến yếu tố tác động môi trường và xã hội nên thế hệ sau phải gánh chịu. Nói một cách nôm na, chúng ta hôm nay có “của ăn” nhưng liệu có “của để dành” cho con cháu hay không? Phát triển thủy điện phải tính đến hài hòa các yếu tố trên, trong đó đặc biệt lưu tâm đến vấn đề con người. Vì thế, văn kiện này sẽ rất hữu ích cho Việt Nam trong bối cảnh việc xây dựng thủy điện “bùng nổ” như hiện nay./.
