Việt Nam đang “cho không” nước ngoài hàng tỉ m3 nước/năm

Khi một số nước trên thế giới đã tính đến giá trị của nước trong sản phẩm thì Việt Nam vẫn chỉ mới nghĩ giá trị thực mà tài nguyên nước mang lại.

Trong khi nước ta đang đứng trước nguy cơ thiếu nước thì ngoài sự lãng phí tài nguyên này, các nhà hoạch định chính sách đang quên đi giá trị của “nước ảo”, dẫn tới việc chúng ta xuất khẩu hàng tỷ m3 nước sang nước ngoài nhưng chưa mang lại lợi ích gì nhiều từ giá trị của tài nguyên nước. Xung quanh vấn đề này VOV Online phỏng vấn PGS.TS Bùi Công Quang – nguyên giảng viên Đại học Thủy Lợi - Cố vấn kỹ thuật cao cấp quốc gia Dự án Nâng cao năng lực thể chế quản lý rủi ro thiên tai tại Việt Nam, đặc biệt các rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu” (Dự án SCDM)

PV: Ông có thể đánh giá thực tế về tài nguyên nước ở Việt Nam hiện nay?

PGS.TS Bùi Công Quang: Việt Nam luôn tự hào là quốc gia nhiều tài nguyên nước, nhưng thực tế tài nguyên nước xếp bình quân trên đầu người, chúng ta đứng 57 trên thế giới. Theo dự báo, đến năm 2020, Việt Nam sẽ nằm trong nhóm nước trung bình yếu về tài nguyên nước. Và hiện nay một số khu vực đang đứng trước nguy cơ thiếu nước.

Theo kịch bản của Bộ TNMT, trong thời gian hiện nay nhiều khu vực đang thiếu nước như miền Đông Nam Bộ với khai thác 75% lượng nước mùa khô. Tính cả dự báo sử dụng nước trong tương lai vào mùa khô tới năm 2020 trong chỉ số khai thác nguồn nước cho thấy lưu vực Đông Nam bộ trên ngưỡng 100%. Điều này có nghĩa là sử dụng nước dự báo sẽ vượt xa tổng lượng nước sẵn có trên lưu vực sông trong mùa khô.

Chính sách quản lý thiếu hợp lý khiến nước vẫn được dùng lãng phí dù nước ta đang đứng trước nguy cơ thiếu nguồn tài nguyên này (Ảnh: KT)

Với mức độ sử dụng hiện tại, các lưu vực sông Mã, sông Hương và ở trong tình trạng căng thẳng trung bình về nguồn nước (giữa 20% và 40%), và sông Đồng Nai cũng đang ở giới hạn này.

Dân số gia tăng đi cùng với sự gia tăng sử dụng nước. Dự báo dân số tới năm 2020 cho thấy, lưu vực sông Đồng Nai sẽ tiến gần tới mức thiếu nước nghiêm trọng nếu xét về tổng lượng nước hàng năm. Các lưu vực sông Đông Nam bộ, Hồng, Mã và Côn sẽ ở ngang hoặc dưới mức thiếu nước.

Các con số trên cho thấy, hoạt động khai thác nước quá mức đã và sẽ tạo nên mức độ rất không bền vững tài nguyên nước cho các lưu vực sông. Nguy cơ tranh chấp về nước là rất hiện hữu.

PV: Thực tế, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu nước, nhưng việc sử dụng nước hiện nay rất lãng phí, theo ông nguyên nhân bắt nguồn từ đâu?

PGS.TS Bùi Công Quang: Đầu tiên phải nói đến ý thức của người sử dụng, người dân vẫn chưa có ý thức về tiết kiệm nước. Ví dụ như nông dân, họ sử dụng nước trồng lúa một cách tràn lan.

Bên cạnh đó, chính sách và luật pháp đang có vấn đề. Ví dụ như trong Luật Tài nguyên nước hay Nghị định 120 của Chính phủ về quản lý nước trên lưu vực sông nói rằng, tất cả các hộ sử dụng nước phải trả phí. Trong khi Nghị định 115 của Chính phủ năm 2008 nói rằng miễn thủy phí. Điều này dẫn tới hai vấn đề, người nông dân không ý thức về bảo vệ nước, sử dụng nước một cách vô tội vạ. Còn doanh nghiệp thủy lợi bị biến thành doanh nghiệp bao cấp làm cho họ yếu đi và trong công việc cũng gây lãng phí nước không cần thiết.

Sự lãng phí nước còn thể hiện ở chỗ, các nhà hoạt định chính sách chưa quan tâm nhiều đến “nước ảo” và “dấu chân nước”.

Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc về Tài nguyên nước (UN Water), lượng nước ảo của một sản phẩm là khối lượng nước được dùng để sản xuất ra sản phẩm, được đo đạc tại nơi sản xuất thực tế.

PGS.TS Bùi Công Quang

Chẳng hạn, trong 3 năm nuôi một con bò cho được 200 kg thịt, nó đã ăn đến 1.300kg ngũ cốc và 7.200 kg cỏ. Để sản xuất lượng ngũ cốc và cỏ đó phải cần đến 3 triệu lít nước. Lại còn cần thêm 24.000 lít nước cho con bò uống và 7.000 lít cho các hoạt động chăm sóc khác dành cho con bò. Tóm lại, để có 1 kg thịt bò, phải cần đến 15.340 lít nước.

Còn dấu chân nước được xem là tổng lượng nước dùng trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ được tiêu thụ bởi một cá nhân, cộng đồng hay được tạo ra bởi một doanh nghiệp. Dấu chân nước của một quốc gia là tổng lượng nước dùng trong sản xuất tất cả các hàng hóa và dịch vụ được cư dân của quốc gia đó tiêu thụ.

Trên thế giới đã có nhiều nước tính toán đến vấn này, như Mexico nhập khẩu mì và lúa ở Hoa Kỳ thì nước cần 7,1 tỷ m3 nước để sản xuất ra lượng hàng hóa xuất khẩu này. Nhưng nếu Mexico sản xuất thì cần tới 15 tỷ m3 nước/năm. Từ góc độ toàn cầu đối với thương mại ngũ cốc này sẽ tiết kiệm được 8,5 tỷ m3 nước/năm.

Nhiều quốc gia, bao gồm Nhật Bản, Mexico và hầu hết các nước ở châu Âu, Trung Đông và Bắc Phi có nước nhập khẩu ròng ảo. Như thế, an ninh tài nguyên nước của nhiều nước phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên nước của các nước khác.

PV: Vậy dấu chân nước và nước ảo có ý nghĩa như thế nào trong sử dụng tài nguyên nước, phát triển kinh tế, thưa ông?

PGS.TS Bùi Công Quang: Nước ảo và dấu chân nước giúp cho nhà hoạch định có cái nhìn cụ thể hơn trong phát triển kinh tế cũng như quy hoạch.

Ví dụ như trong sản xuất lúa, khi đã quan tâm đến nước ảo và dấu chân nước, nhà quy hoạch sẽ phải lưu tâm đến vùng nào nên trồng và vùng nào không nên trồng lúa nước. Bên cạnh đó, nhà quy hoạch sẽ phải tính đến chuyện phát triển sản xuất gì ở trên vùng ít nước vừa mang lại hiệu quả vừa đảm bảo sự cân bằng của tài nguyên nước.

Tuy nhiên vấn đề này, theo tôi được biết, ở nước ta, chưa có nghiên cứu nào về nước ảo và dấu chân nước.

PV: Vậy ông có đề xuất giải pháp gì để đảm bảo việc sử dụng nước tiết kiệm, vừa đảm bảo lợi ích kinh tế?

PGS.TS Bùi Công Quang: Trên thế giới, luồng đi của nước ảo chủ yếu đi theo xu thế từ châu Á sang châu Âu, châu Mỹ vì đa số các nước châu Á sản xuất nông nghiệp. Việt Nam cũng không tránh khỏi xu thế đó.

Từ nhìn nhận này, tôi cho rằng, trong quy hoạch sản xuất cần có cơ quan thẩm duyệt để ngoài việc tính đến nhu cầu sử dụng nước thì cần tính đến lượng nước ảo, dấu chân nước trong quy hoạch phát triển.

Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ tài nguyên nước phải dựa vào cộng đồng. Đi đôi với nó là chính sách giao khoán hợp lý để khuyến khích tiết kiệm nước.

Kèm theo đó là chế tài xử phạt. Tôi đưa ra câu chuyện Vedan gây ô nhiễm hệ thống sông Đồng Nai chẳng hạn, Vedan gây ô nhiễm nước mặt chứ có phải nước ngầm đâu mà chính quyền địa phương không biết để đến nỗi sự việc kéo dài hàng năm trời. Khi xử phạt vài ba chục triệu đồng đối với một doanh nghiệp chẳng đáng bao nhiêu. Giờ chúng ta thử làm biện pháp doanh nghiệp vi phạm sẽ bị phạt 10% doanh thu chẳng hạn, thử hỏi họ có thực thi chính sách pháp luật đề ra không.

Ngoài ra, chúng ta cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ để sử dụng nguồn nước hiệu quả, tiết kiệm. Các biện pháp nên kết hợp với nhau nếu không nguy cơ chúng ta thiếu nước là đang rất hiện hữu./.

PV: Xin cảm ơn ông!

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.