Ngõ tre vàng

Đây đây cửa ngõ tre vàng/ Ghé thăm Thúc Giạ nghe chàng tụng kinh

Mấy thôn hai bên bờ con sông đầy ắp nước chảy qua dưới cầu ngói Thanh Toàn thôn Thanh Thủy Chánh, những năm 1949 - 1950 là nơi các cơ quan lãnh đạo thành phố Huế đóng (hồi ấy gọi là Thị: Thị uỷ, Thị đội...). Được báo Cứu quốc phái vào làm phóng viên ở ba tỉnh Bình Trị Thiên, tôi có dịp đến đấy nhiều lần.

Ảnh minh họa

Thường xuyên liên hệ với Thị ủy có nhiều tổ chức hoạt động ở nội thành, bí mật có công khai có. Có một đội thiếu niên mang tên “Đội Việt Dũng” gồm học sinh, thiếu niên; các em nắm tình hình đối phương hoặc làm giao liên đưa thư, dẫn đường cho cán bộ vào ra thành phố. Một lần, gặp mấy em từ nội thành ra, tôi nhờ các em giúp đưa vào trong ấy “chơi vài bữa”, kỳ thực để tìm tư liệu viết bài. “Nhất trí, anh vào luôn với tụi em” - cậu xởi lởi. Chập tối, tôi theo hai em băng qua sông Vân Dương - ranh giới giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm, bên này sông dân quân ta kiểm soát giấy tờ, bên kia sông sờ sờ cái bốt địch. Chẳng may gặp ổ lính địch phục kích, rình bắt cán bộ, đành quay lại.

Mấy hôm sau gặp cậu Việt Dũng khác, cậu cười: “Anh vô với em. Dễ ẹc. Đi đàng hoàng ban ngày mới tiện, chớ anh. Ngày lễ, các trạm kiểm soát của họ nghỉ tất. Em đưa anh về nhà chị ruột em, anh ở đấy tha hồ đi bát phố, lúc nào chán, em đến dẫn anh ra”.

Vậy là hôm ấy - hình như trùng vào ngày lễ Phật, thấy nhiều người đi chùa - tôi theo cậu thiếu niên, đàng hoàng vẫy đò ngang qua sông Vân Dương, đàng hoàng qua trước cổng bốt dân phòng của địch, lên Vỹ Dạ. Hai anh em ung dung tản bộ, định đi dần vào các đường phố chính, chợt thấy đằng xa có hai, ba lính “bảo vệ quân” (lính của chính quyền ngụy thời Pháp) đầu đội mũ rộng vành khoác súng từ xa đi ngược lại. Cậu Việt Dũng vội kéo tôi tạt qua cái cổng xây ven đường, vào một khuôn viên rộng có ngôi nhà khuất giữa cây trái xanh tươi. Chúng tôi đi thẳng đến cuối vườn, nép vào rặng tre, tính chuyện nếu nguy cấp thì theo lối này thoát ra sông. Nhìn qua cây vườn, thấy thấp thoáng bóng mấy chiếc mũ rộng vành đang theo cái ngõ chạy men vườn xuống mạn bờ sông, tôi càng phấp phỏng. Vừa lúc ấy, một bà đứng tuổi từ trong nhà ra nói nhỏ: “Hai anh vô nhà, đừng đứng lâu ở đây, bọn hắn sinh nghi”.

Chúng tôi được mời ngồi xuống bộ tràng kỷ giữa gian nhà cổ. Một bà cao tuổi khác ăn mặc giản dị, ung dung pha trà mời khách như không có chuyện gì xảy ra. Bà tuyệt nhiên không hỏi han gì, còn dặn: “Hai anh ngồi dùng nước tự nhiên. Bọn lính có vô, hai anh chớ có nói năng chi, để mặc tui nói chuyện với họ”.

Nói xong bà lui vào nhà trong.

Nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị

Lát sau, nghe vài tiếng súng nhỏ nổ lẻ tẻ. Tôi càng lo, vội rút chiếc Thẻ nhà báo gấp nhỏ lại, nhét vào một cái gờ mé dưới mặt bàn. Trước khi vào thành, tôi đã để lại mọi giấy tờ, song cái thẻ này bất khả ly thân, nếu không lúc trở ra một mình, sang vùng ta kiểm soát có thể gặp rắc rối với dân quân. Nhìn bộ quần áo đúng mốt mà anh em mượn giúp cho tôi mặc thay bộ áo cánh vải nâu tuềnh toàng từ xứ Nghệ mang vào, thấy mình cũng ra dáng thanh niên Huế, tôi yên tâm phần nào. Chợt ngó xuống chân thì hỡi ôi! Mặc dù đôi xăng đan da vừa mượn khá tươm tất, song trên mu đôi chân đen đủi, lồ lộ bốn vết chéo chữ thập trắng hếu. Đấy là dấu mấy sợi dép râu cắt từ săm xe hơi của đôi dép lốp đã bao ngày cùng tôi trèo đèo lội suối rồi băng qua các trảng cát nắng bỏng Quảng Bình, Quảng Trị, mấy vệt trắng mách lẻo ấy (do quai dép che nắng mặt trời) biết lấy gì xóa đi lúc này! “Mình bị bắt ở đây thì vô duyên quá, còn phải chịu kỷ luật nữa”, tôi nghĩ thầm.

Ngôi nhà tĩnh lặng tưởng như không có người. Đảo mắt nhìn mấy bức hoành phi, câu đối treo la liệt, tôi chợt gặp mấy từ Thúc Giạ. Cái vốn Hán văn lõm bõm học thuở nhỏ không cho phép tôi thấu hết ý nghĩa chắc là uyên thâm của các câu đối, nhưng mấy đại tự chân phương trên các bức hoành phi kia cùng niên hiệu, lạc khoản... thì có thể. Đầu tôi lóe sáng: Hay đây chính là tư dinh của nhà thơ nổi tiếng xưa Huế, cụ Ưng Bình Thúc Giạ?

Lát sau, người đàn bà cao tuổi từ nhà trong ra, mỉm cười: “Chừ hai anh có thể đi rồi đó. Chỉ là mấy chú “bảo vệ” được ngày nghỉ mang súng đi bắn chim kiếm chút thức ăn tươi. Không can chi, không đời nào họ dám vô đây”.

Sau ngày miền Nam giải phóng, tôi đến Huế nhiều. Bao nhiêu lần thơ thẩn dọc theo con đường Vỹ Dạ ngó nghiêng tìm kiếm, may ra có thấy lại dấu vết cái cổng gạch thời nào. Bên đường vẫn có một cái cổng cổ kính đậm vết thời gian lạc giữa những ngôi nhà hiện đại, đắp nổi ba chữ “Tùng Thiện Phủ”. Cụ Thúc Giạ là cháu nội Tuy Lý Vương (con thứ 11 của vua Minh Mạng) - “Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường”..., nhiều người Huế xưa kia thuộc câu vua Tự Đức ngợi ca hai nhà thơ Tùng Thiện Vương (con thứ 10 của vua Minh Mạng) và Tuy Lý Vương - vậy nhà cụ Thúc Giạ chắc cũng gần đâu đây. Nhưng nhiều lần tìm vẫn không thấy.

Sự tìm kiếm vô vọng khiến tôi đâm ra nghi ngờ trí nhớ của mình. Hay là tại ta quá ngưỡng mộ nhà thơ mà tưởng tượng nên? Mãi gần đây, được đọc tập thơ Tiếng hát sông Hương của cụ Ưng Bình vừa tái bản do nhà thơ Tôn nữ Hỷ Khương tặng, tôi mới vỡ nhẽ: thì ra cái cổng xây ấy đã bị san bằng thời Ngô Đình Diệm để mở rộng con đường chạy ngang trước nhà. Thay vào cái cổng thâm nghiêm, nhà thơ cho trồng hai bụi tre vàng: “Đây đây cửa ngõ tre vàng/ Ghé thăm Thúc Giạ nghe chàng tụng kinh”, cụ làm thơ nhắn bạn đến chơi.

Cụ Thúc Giạ dạo ấy không có nhà. Cụ đã cùng gia đình rời thành phố tản cư về thôn quê lánh Pháp, uy danh của cụ đã cứu nguy cho tôi…/.

Ưng Bình Thúc Giạ Thị là cháu nội của Tuy Lý Vương Miên Trinh - con vua Minh Mạng. Ông là tác giả của hai câu thơ nổi tiếng, nay đã thành câu ca dao truyền miệng mỗi khi nói về xứ Huế: “Chiều chiều trước bến Văn Lâu/ Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm/ Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông// Thuyền ai thấp thoáng trên sông/ Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non...”...

Không chỉ là tác giả của hàng nghìn bài thơ chữ Hán và chữ Việt, cùng những câu thơ rất đẹp về Huế, Vương tôn Ưng Bình Thúc Giạ Thị còn là nhà soạn tuồng tài ba. Tác phẩm được nhắc đến nhiều nhất của ông là “Lộ Địch”, vở tuồng phóng tác từ vở “Le Cid” của nhà văn Pháp P.Corneille, nói về kết cục ngang trái giữa hai người yêu nhau bị chia cách bởi hận thù giữa hai gia đình, khi cha của cô gái chết dưới lưỡi gươm của chàng trai, nhưng với cách chọn kết cục khác hoàn toàn với nguyên tác, phù hợp với tư tưởng Á Đông. Vở “Lộ Địch” được coi là mẫu mực của việc chuyển biên một tác phẩm sân khấu châu Âu sang sân khấu truyền thống Việt Nam.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.