Người mang ngõ vào văn

Từ xưa đến nay, người “mang” ngõ vào văn có lẽ kể không xuể. Nhưng cái cách “mang” như nhà văn Trung Trung Đỉnh, chắc chỉ có mình ông: “Ngõ lỗ thủng”.  

Nơi ngõ nhỏ…

Bây giờ ngõ ấy không còn… thủng nữa, nhưng người ta vẫn quen gọi ngõ số 4 Vân Hồ 2 (trước kia là số 9 Vân Hồ 3) - nơi khởi tích của câu chuyện bằng tên “Ngõ lỗ thủng”, nhất là sau khi VTV1 phát sóng bộ phim cùng tên, được chuyển thể từ tiểu thuyết của nhà văn Trung Trung Đỉnh.

Ông bảo, nhà biên kịch thật thông minh khi gộp hai cuốn tiểu thuyết “Ngõ lỗ thủng” và “Tiễn biệt những ngày buồn” của ông cùng viết vào những năm 80 của thế kỷ 20 để chuyển thể thành phim “Ngõ lỗ thủng”. Ông cũng vui vì sức lan tỏa của nó. Lời bài hát trong phim này do ông đặt bút viết. Chẳng hiểu, hồi đó, do được nhạc sĩ Trọng Đài và đạo diễn Quốc Trọng “khích bác” về cái “ngày xưa thân ái” thế nào mà khiến ông chỉ viết trong một “góc đêm” là xong.

Tâm trạng này của nhà văn cũng là điều dễ hiểu, bởi ông và rất nhiều bạn văn đã từng sống ở gần cái ngõ ấy trong những ngày gian khổ nhất của đất nước. Nó chỉ là một cái ngõ thông thường như bao cái ngõ quanh co của thành phố Hà Nội, nhưng ở cái ngõ đó, cuộc sống của những người công nhân, trí thức, thợ thủ công, lao động tự do, trong giai đoạn chuyển tiếp từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường với ngổn ngang bao đổi thay, được bộc lộ một cách đặc trưng nhất. Bản thân ngõ nhỏ hồi đó không có tên, nhưng những người dân ở đây đã khoét một vài lỗ thủng để đi sang công viên Thống Nhất...

Vì thế, sau những bước chân nhọc nhằn khuya sớm của những người dân ở đây đã tự nó đặt tên cho nó là “Ngõ lỗ thủng”, còn ông chỉ là kẻ “chép lại” thành ra tiểu thuyết “Ngõ lỗ thủng” - lỗ thủng vật chất thực tế và lỗ thủng về nhiều mặt trong từng con người thời đó. Ví như Xoay, một nhà văn độc thân chỉ biết mê mải làm nghề và luôn chân thành, chân chất, thật thà trong tình yêu với Sương mà không hề biết đến những toan tính cùng cách sống thực dụng của cô. Sự va chạm giữa hai lối sống thực dụng, cơ hội với chân thật, hồn nhiên ẩn dưới những câu chuyện tưởng chừng hài hước nhưng không thiếu bi kịch. Một Ron, luôn luôn cúc cung tận tụy cho sự nghiệp, cứ nghĩ cấp trên đã nói là phải đúng, đã đúng là phải làm, đã làm quyết không sai, rốt cuộc ra về tay trắng, hóa thành một anh ngớ ngẩn, nhìn con chết mà bất lực…

Những nhân vật trong truyện đã được nhà văn hư cấu nhưng nhân vật anh Gù là hoàn toàn có thật. Anh Gù là người đã đeo đẳng tâm trí nhà văn suốt một thời gian dài. Anh Gù sống bằng tiền bán nước chè, thuốc lào ở đầu ngõ lỗ thủng. Trong cuộc đời thật, anh Gù bị liệt hai chân bẩm sinh. Hai tay và chiếc ghế đũn là vật duy nhất giúp anh đi lại trên đất. Tuy anh không đi lại được bình thường nhưng người tử tế cũng nể anh mà kẻ bụi đời, bặm trợn cũng sợ anh một phép. Anh thường làm nhiệm vụ của người giữ “cán cân công lý”, đứng ra xử lý hết những việc nhỏ to va chạm của khu phố, mà chỉ giải quyết bằng sức mạnh của tinh thần.

… Ấm tình người

Theo nhà văn Trung Trung Đỉnh, trong tiểu thuyết của ông các nhân vật đều là người tốt. Vì họ đều là những người cùng cảnh ngộ, cùng đi qua cuộc chiến tranh của dân tộc, cùng cảm thông và thương nhau. Còn trong phim, yếu tố này các nhà biên kịch đã sử dụng thủ pháp và ngôn ngữ của điện ảnh nên đã có cách biểu hiện thích hợp với sự kiện và bối cảnh…

Nghệ thuật vốn là thế! Nghệ thuật luôn bắt nguồn từ cuộc sống và cũng vì cuộc sống nên phải tô điểm nó lên cho hợp với thời cuộc. Còn những người dân ở ngõ lỗ thủng bây giờ, cái tình người ấm áp theo cách riêng của họ hồi đó vẫn không thay đổi, có chăng đó là sự đổi thay về hình hài của con ngõ với sự khang trang, sạch đẹp của những ngôi nhà cao tầng và thấp tầng, đầy đủ tiện nghi, con cháu học hành đỗ đạt.

Bác Sửu, nguyên là công nhân Nhà máy cơ khí Mai Động - người từng gắn bó với cái ngõ này gần 60 năm (từ cuối năm 1954) cho biết, dãy nhà trong ngõ này trước kia là khu trại lính của Mỹ viện trợ cho Bảo Đại (1952-1954). Sau giải phóng Thủ đô, khu này bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, một số người dân từ trong phố chật chội chuyển xuống đây sinh sống. Năm 1956, Nhà nước mới bắt đầu quản lý với hình thức cho thuê. Thời đó, chỉ có hơn chục nhà nhưng sau đó, một số gia đình tách hộ nên xây phần vườn lên để ở.

Giờ đây, ngõ có gần 20 nhà với gần 30 hộ dân nhưng hầu hết đều là người xưa cũ, chỉ có vài gia đình đông con bán đi mua chỗ ở mới xa hơn, rộng rãi hơn, vì thế cũng thêm vài hộ gia đình mới. Bác Sửu bảo: “Những người dân chúng tôi đều không muốn rời xa cái ngõ này, phần vì không khí nơi đây vừa trong lành, không gian lại thoáng mát, phần vì nặng tình với những ngày tháng đã qua đi”.

Quả đúng vậy. Những ngày tháng đã qua đi, dẫu vui hay buồn nó đều là miền ký ức không thể quên trong mỗi người. Anh Nguyễn Anh Tuấn, người được sinh ra ở đây, sống bằng nghề xe ôm từ khi nào cũng chẳng nhớ nữa. Nhưng anh nhớ mình đã từng có bao nhiêu kỷ niệm với cái lỗ thủng của hàng rào xây ngăn cách công viên Thống Nhất với khu dân cư.

Anh bảo, bây giờ cuộc sống khấm khá hơn, cái sự chật vật mưu sinh vẫn còn nhưng nó không bí bách như cái thời ấy. Thời ấy, cả khu này đều kiếm kế sinh nhai bên trong công viên. Hồ ngày đó rộng hơn bây giờ nhiều, cá cũng lắm nên mọi người không chỉ câu được cá về ăn mà còn mang ra chợ bán… Bởi thế, lỗ thủng được chính quyền xây bít lại không biết bao nhiêu lần, cứ xây buổi sáng, tối vài đứa trẻ lại lọ mọ đục ra. Phải đến cả chục năm sau, khi lỗ thủng được đổ bê tông thì mới chấm dứt cảnh đó. Anh Tuấn nói, cái ngày xưa khổ quá mà… Chứ giờ, có cho tiền cũng chả ai đục lỗ thủng để tiện sang công viên nữa.

Đó chính là cái kết có hậu hóa giải cho câu hỏi tại sao “ngõ lỗ thủng” lại đi vào văn chương lẫn phim ảnh, rồi được đông đảo công chúng đón nhận./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.