Kỷ niệm 64 năm Ngày thương binh - liệt sĩ

Những giọt nước mắt của lịch sử và hiện tại

Đã hơn 36 năm thời gian cất bước, nhưng máu và kỷ niệm của những ngày ấy vẫn lặng lẽ chảy trong tâm trí chúng ta, dù cho cuộc sống thường nhật hôm nay quá đỗi hối hả, bộn bề.

Ký ức thiêng liêng

Hạnh phúc và cơ may làm sao, đúng dịp kỷ niệm 64 năm Ngày thương binh - liệt sĩ năm nay tôi có mặt ở Côn Đảo. Chỉ sau 30 phút cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất, chiếc máy bay tầm trung đời mới của Air Mekong đã đáp xuống sân bay Cỏ ống - Côn Đảo. Tôi như đặt chân lên một thế giới khác. Những bộn bề, gấp gáp, quay cuồng đến chóng mặt của nhịp sống đô thị vài giờ trước tôi vừa trải qua ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bỗng tan đi như lớp sương mờ. Tôi như chìm vào vẻ đẹp quyến rũ đến mê hồn của thiên nhiên hoang sơ trong lặng lẽ, bình yên và trầm mặc của không gian tưởng niệm sâu sắc...

Vẻ đẹp trong lành của thiên đường du lịch Côn Đảo

Ráng chiều đỏ ối cả một vùng trời đổ xuống các ngọn núi, rừng dương và những cây bàng cổ thụ hơn trăm tuổi trầm mặc trong sân các trại giam mà từ tháng 5/1975 đã trở thành bảo tàng sống của “Địa ngục trần gian Côn Đảo”. Tôi đứng lặng người giữa Banh I - trại giam lâu đời nhất trong hệ thống 113 năm nhà tù Côn Đảo, mang đậm dấu tích của các thời kỳ lịch sử. Bốn bức tường với những mảnh chai và rào kẽm gai, phủ đầy rêu phong của thời gian quây kín diện tích 12.015m2, trên đó là 10 phòng giam tập thể (chia làm 2 dãy, mỗi dãy 5 phòng), 1 phòng giam tù đặc biệt, 20 xà lim (hầm đá), 1 hầm xay lúa, 1 khu đập đá khổ sai...

Nữ cán bộ Ban quản lý di tích Côn Đảo hướng dẫn tôi thăm phòng giam tù đặc biệt trong Banh I. Sau luật phát xít 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch xây tách từ phòng giam lớn trong Banh I ra một phòng giam đặc biệt để giam tù án tử hình. Tổng cộng từ đó tới năm 1975 đã có tất cả 250 tử tù bị giam ở đây. Xưa nay vượt ngục thường xảy ra ở các kíp tù và các sở tù khổ sai ngoài trại giam. Đây là lần đầu tiên và duy nhất trong lịch sử 113 năm nhà tù Côn Đảo nổ ra cuộc vượt ngục tại phòng cấm cố giam tử tù, nơi được duy trì chế độ an ninh nghiêm ngặt nhất. Ba tử tù thực hiện cuộc vượt ngục táo bạo gây chấn động toàn Côn Đảo ngày ấy là các anh: Nguyễn Văn Hai tức Lê Văn Việt (chiến sĩ biệt động thành Sài Gòn - Gia Định, người đã từng dùng thuốc nổ đánh sập ô - ten Brinh Mỹ ở đường Hai Bà Trưng - Sài Gòn năm 1964, tiêu diệt gần 400 lính Mỹ và cho nổ tung Sứ quán Mỹ ở Sài Gòn năm 1965), sau này được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam, Lê Hồng Tư (lực lượng vũ trang Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định) và Phạm Văn Dẫu (Quân giải phóng Gia Định).

Tôi lặng người trong phòng giam cấm cố tử tù. Hiện trạng phòng giam vẫn giữ nguyên từ ngày đó. Những chiếc còng sắt đêm ngày còng chân anh Hai, anh Tư và anh Dẫu giờ đã hoen gỉ. Bệ xi măng tù nằm ngày nào thấm đẫm máu các anh còn đây. Cũng tại đây, anh Lê Hồng Tư đã nhận được lời hứa hôn và vật làm tin của chị Nguyễn Thị Minh Châu do anh Phạm Văn Dẫu bị đày ra Côn Đảo sau đó bí mật chuyển cho.

Dãy chuồng cọp ở nhà tù Côn Đảo

Từ bệ xi măng lên tới mái ngói cao tới hơn 6m. Thật không sao có thể hình dung được, trong tình cảnh bị giám sát hết sức nghiêm ngặt, bị còng chân suốt đêm ngày, ba anh lại có thể trổ mái ngói thoát ra. Bệ đá các anh nằm, những chiếc còng sắt hoen gỉ từng còng chân các anh còn đây. Mái ngói tít trên cao, nơi đêm nào các anh trổ nóc thoát ra còn kia. Phải 10 ngày sau cuộc vượt ngục nổ ra, bọn chúa đảo và cai ngục khét tiếng ác ôn mới truy lùng khắp các quả núi, lần lượt bắt được ba anh. Tất cả bị đưa về giam và tra tấn tại hầm đá Trại II. Anh Hai bị chúng đánh đập nhiều trận rất dã man cho đến chết. Nhưng khí tiết của người đảng viên, chiến sĩ cộng sản Nguyễn Văn Hai khiến kẻ thù phải khiếp sợ, khâm phục.

Khác với lệ thường ở Côn Đảo, tù chết chỉ được bó trong bao bàng xơ xác kéo ra vùi ở Nghĩa trang Hàng Dương, bọn chúa đảo, cai ngục ra lệnh cho tụi lính kiếm mấy miếng ván tốt đóng một cỗ quan tài. Thằng Vệ, chúa đảo thân chinh chỉ huy việc chôn cất anh Hai, nó ra tận nghĩa địa đôn đốc tụi lính đào huyệt. Đắp đất xong, thằng Vệ đứng lặng hồi lâu trước mộ anh Hai, mặt cúi gằm, thái độ kính trọng...

Cuộc vượt ngục có một không hai chấn động toàn Côn Đảo ngày ấy, tôi từng nghe anh Lê Hồng Tư kể chi tiết trong những lần tôi gặp tại Sài Gòn hồi đầu giải phóng, như một cuốn phim sống động hiện ra. Đã hơn 36 năm thời gian cất bước, nhưng máu và kỷ niệm của những ngày ấy vẫn lặng lẽ chảy trong tâm trí chúng ta, dù cho cuộc sống thường nhật hôm nay quá đỗi hối hả, bộn bề. Tâm trạng ấy ngự trị trong tôi suốt những ngày ở Côn Đảo. Tôi đã tới thăm hầu hết các trại giam trong hệ thống nhà tù Côn Đảo, những hầm đá, chuồng cọp, chuồng bò, những hầm xay lúa, khu đập đá khổ sai, khu biệt giam. Tôi cũng đã tới thăm hầu hết các sở tù trước đây, những sở muối, sở làm đá, sở kéo cây, sở chuồng bò, sở lò vôi, lò gạch..., nơi không biết bao nhiêu tù nhân đã vùi xác trong lao động khổ sai.

Cầu tàu 914 lịch sử ở Côn Đảo

Tôi đã ngậm ngùi ở cầu Ma Thiên Lãnh dưới chân Núi Chúa, nơi 356 tù nhân đã bỏ xác mà cầu mới chỉ xây được hai mố, mỗi mố cao khoảng 8 mét. Tên "Ma Thiên Lãnh" do tù nhân khổ sai làm cầu lấy tên ngọn núi Ma Thiên Lãnh ở Triều Tiên, địa thế hiểm ác khó lên xuống, phỏng theo truyện Tàu “Tiết Nhân Quí Chinh Đông” đặt tên cho cầu này. Tôi cũng đã xúc động bồi hồi trên cầu tàu lịch sử 914 tại khu trung tâm bãi biển chính của thị trấn Côn Đảo, nơi chứng kiến nỗi cực nhục đầu tiên của những người bị đưa ra Đảo tù đày, nhiều người chỉ qua cầu có một lần rồi vĩnh viễn yên nghỉ tại “địa ngục trần gian” này. Con số 914 được đặt tên cho cầu là do người tù nhẩm tính số người tù đã ngã xuống vì lao dịch, tai nạn trong quá trình khổ sai xây cầu được khởi sự từ năm 1873. Tôi đã chết lặng trước bãi sọ người cạnh biệt lập chuồng bò và hầm phân bò.

Đêm cuối cùng ở Côn Đảo, tôi tới Nghĩa trang Hàng Dương thắp hương tưởng nhớ trên mộ chị Võ Thị Sáu, mộ anh Hai và mộ các anh hùng liệt sĩ có tên và vô danh. Có tất cả 1.912 ngôi mộ, trong đó có tới 1.200 ngôi mộ vô danh được qui tập trong nghĩa trang này. Mười tám năm sau ngày giải phóng, các cơ quan có trách nhiệm mới chỉ tận tụy xác minh và quy tập được chừng đó, còn hàng vạn hài cốt anh hùng, liệt sĩ và đồng bào yêu nước khác vẫn mãi mãi lặng lẽ nằm sâu dưới lớp đất rộng tới hơn 20 ha ở Nghĩa trang Hàng Dương.

Mộ nữ anh hùng liệt sỹ Võ Thị Sáu

Không sao thống kê đầy đủ con số bao nhiêu người đã chết thê thảm trong nhà tù Côn Đảo, bao nhiêu người đã bị đày ải đến tàn phế, mang những chứng bệnh nan y mà từ ngày ra tù đến nay phải dùng nhiều thuốc hơn cơm, đau đớn quằn quại trên giường bệnh nhiều hơn là giấc ngủ. Sự hy sinh của biết bao liệt sĩ trong cuộc chiến đấu ấy đã tiếp tục khai hoa, kết quả trong thắng lợi và thành tựu của dân tộc Việt Nam...

Bao tấm gương, bao câu chuyện toát lên vẻ đẹp tư tưởng và tinh thần của người chiến sĩ cộng sản vượt qua cảnh ngộ đọa đày và cả sự tàn khốc của chế độ lao tù. Côn Đảo từ lâu đã trở thành dải đất thiêng liêng, nơi ngưỡng mộ và tưởng nhớ của những người cách mạng và của nhân dân cả nước. Một nắm đất nơi đây cũng là dấu tích của bao sự kiện đấu tranh cách mạng với mỗi liệt sĩ, mỗi thời kỳ. Hiếm có nơi nào quá khứ và hiện tại đan xen, nhắc nhớ tới nhức nhối như nơi đây:

“Núi Côn Lôn được pha bằng máu

Đất Côn Lôn năm, sáu lớp xương người

Mỗi bước chân che lấp một cuộc đời

Mỗi tảng đá là một trời đau khổ...”.

Những bộ hồ sơ lưu giữ số phận

Vừa ở Côn Đảo về, một may mắn thật khó tin đã bất ngờ đến với tôi. Tôi nhận được giấy báo của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III - nơi lưu giữ vĩnh viễn hồ sơ cán bộ đi B thời chiến tranh báo cho biết tôi có hồ sơ đang được lưu giữ tại Trung tâm, số hồ sơ: 18.170...

Đã 43 năm qua, kể từ đầu năm 1968, tôi được Bộ biên tập TTXVN cử vào biệt phái trong Tổ phóng viên TTXVN thường trú tại Quảng Đà (Mặt trận Bắc Quảng Nam - Đà Nẵng), tôi không hề nghĩ rằng mình có hồ sơ, giấy tờ gì được Trung tâm Lưu trữ Quốc gia lưu giữ. Vì thế mà lần đầu tôi biết đến và hồi hộp tới Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III ở 34 Phan Kế Bính - Hà Nội. Giống như tâm trạng giây phút đầu tiên đặt chân lên Côn Đảo, vừa bước vào Trung tâm, tôi đã như bước vào một thế giới khác. Ngoài kia, đường phố nắng chói chang, ầm ĩ tiếng còi xe, hối hả đến quay cuồng dòng người xuôi ngược trong bụi đường. Trong này lặng lẽ một không khí làm việc nghiêm trang, cẩn mật, không một tiếng ồn. Nơi đây, lặng lẽ một dòng chảy của quá khứ thiêng liêng trong dòng chảy của cuộc sống hôm nay. Hơn 70.000 bộ hồ sơ, lý lịch của từng con người đã đi B thời đó được lưu giữ, bảo quản vĩnh viễn.

Thời đó, kể từ năm 1959, để tăng cường chi viện cho miền Nam, đường Trường Sơn được mở đưa cán bộ, chiến sĩ vào Nam công tác, chiến đấu. Cán bộ đi B thời đó đa số là những cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc sau Hiệp định Geneve 1954 đã có thời gian sống, học tập và công tác tại miền Bắc. Thêm vào đó là những thanh niên, sinh viên, cán bộ miền Bắc được chọn lựa vào miền Nam chiến đấu theo con đường dân sự. Họ hợp lại thành đoàn quân, mà thời đó và bây giờ, gọi là đi B. Nhiều người đã ngã xuống, chẳng biết là bao nhiêu nữa. Số người trở về cũng không sao thống kê chính xác nổi. Chỉ biết rằng, ở kho lưu trữ hồ sơ đi B của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III hiện có hơn 70.000 bộ “Hồ sơ đi B”, “Thời gian bảo quản: Vĩnh viễn”. Những bộ hồ sơ đó hệ trọng tới sinh mạng chính trị của mỗi con người, ngày một phủ dầy lớp bụi thời gian nhưng vẫn đang được lưu trữ, bảo quản cẩn thận chờ ngày thân nhân, đồng đội và cơ quan đến sao nhận.

Tôi thật sự may mắn khi được tận mắt đọc và sao nhận lại những trang hồ sơ đi B của mình mà Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III cất giữ trong suốt mấy chục năm qua. Niềm vui, hạnh phúc không chỉ đến với tôi mà còn đến với không biết bao nhiêu người khác, trong những câu chuyện cảm động tới rơi nước mắt.

Nơi đây, Đại tá Nguyễn Bảo Toản (hơn 70 tuổi, trú tại 47 phố Linh Lang - Hà Nội) đã mừng tới phát khóc khi tìm được hồ sơ của một đồng đội thân thiết. Ông nói với cán bộ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, đó là điều ông không tưởng tượng được. Bởi suốt mấy chục năm trời sau chiến tranh, ông đã đi tìm ở nhiều nơi nhưng “bặt vô âm tín”. Vị đại tá vừa qua cơn bạo bệnh ung thư gốc lưỡi, ôm bộ hồ sơ bạn mình như cái cách mà hai người lính gặp lại nhau sau trận đánh ác liệt. Đó chỉ là một trong những câu chuyện cảm động thường ngày mà cán bộ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III được chứng kiến.

Họ không quên được hình ảnh một phụ nữ gầy gò, lam lũ giờ phiêu dạt vào tận Gò Công đến tìm gặp Trưởng phòng Tổ chức và Sử dụng tài liệu của Trung tâm nói thế này: “Chú ơi! Chú nói với tôi một câu đi, chồng tôi theo địch hay là thế nào? Chú nói đi, để gia đình tôi còn yên tâm mà sống. Cứ mất tích thế này thì khổ lắm!”. Mấy chục năm trời, người đàn bà ấy phải sống trong những hoài nghi, dị nghị khi chồng đi B mà mãi mãi không thấy trở về. Ra Hà Nội, túi không còn một đồng, chị mừng rơi nước mắt khi tìm được hồ sơ của chồng. Cán bộ Trung tâm đã góp tiền giúp chị trong chặng đường về xa xôi. Rồi một người đàn ông gần 40 tuổi ở Hoà Bình đến tìm hồ sơ cha, với ước vọng được nhìn thấy mặt cha. Anh đã đi rất nhiều nơi, nhưng không thu được kết quả gì, cuối cùng tới đây, ước vọng của anh đã trở thành hiện thực.

Hành trình 37 năm tìm hồ sơ để cha mình được công nhận là liệt sĩ của ông Huỳnh Tùng (số 1, ngõ 2 Vương Thừa Vũ - Hà Nội) cũng đầy nước mắt. Cha ông là cụ Huỳnh Mai (Bình Định) là cán bộ tập kết ra Bắc năm 1955. Đến năm 1961, cụ Huỳnh Mai lên đường vào Nam công tác, rồi hy sinh trên đất Lào. Đến năm 1976, gia đình ông hoàn tất hồ sơ đề nghị cho cụ Huỳnh Mai được công nhận liệt sĩ, nhưng khổ nỗi khi đi trong hồ sơ địa phương lại viết là đi học. Đến năm 1997, nhờ tìm được hồ sơ đi B tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, cha ông mới chính thức được công nhận liệt sĩ.

Rồi cái ngày trời vần vũ những cơn giông, một phụ nữ miền Nam đã tìm đến Trung tâm. Chị chỉ tay vào đống hồ sơ, giọng run lên vì xúc động: “Tôi có ba người chồng đang nằm trong đống hồ sơ này”. Nước mắt của chị nối dòng trên má. Cả căn phòng dường như oà khóc khi nghe chị giãi bày: “Cứ vừa cưới xong là chồng tôi lại lên đường, rồi một thời gian sau lại nhận tin đã hy sinh”...

“Tôi có ba người chồng nằm trong đống hồ sơ này” - Câu nói ấy có sức ám ảnh ghê gớm. Tôi rời Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III trong tâm trạng xúc động. Một dòng chảy lặng lẽ, thao thức trong hơn 70.000 bộ hồ sơ đang lưu giữ vĩnh viễn tại đây. Bao số phận, bao cảnh ngộ, bao tâm hồn trong đó. Cần dựng lại gương mặt tinh thần của quá khứ. Bởi không một sự thật nào bị lãng quên trong hành trang đi tới của cuộc sống. Mỗi bộ hồ sơ đang lưu giữ tại đây, chứa đựng trong đó những câu chuyện bình dị của sự thật một thời đạn bom tự hào và đẫm nước mắt. Những giọt nước mắt của lịch sử và của cả hiện tại. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng máu và nước mắt còn đây.../.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.