Những nguyên nhân từ sự chủ quan
Nhiều năm không có lũ lớn đã khiến nhiều địa phương có tâm lý chủ quan, tới khi lũ về đã bộc lộ sự lúng túng trong việc phòng chống
Đã hơn 10 năm nay, người ta mới lại thấy một “mùa nước nổi” đúng nghĩa xuất hiện ở vùng ĐBSCL. Lũ lớn bất ngờ đã gây thiệt hại nặng nề cho những tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp. Với những thiệt hại nghiêm trọng đối với tính mạng và tài sản của nhân dân, những bài học đắt giá rút ra sẽ là kinh nghiệm quý báo để mùa lũ tới, các địa phương và bộ ngành chức năng sẽ chủ động hơn khi “sống chung với lũ”.
![]() |
|
Gia cố đê tại huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp |
Bất ngờ khi lũ lớn về
Khuyến cáo tăng diện tích Thu Đông năm nay ở ĐBSCL của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ nhằm vào những vùng có đê bao vững chắc. Tuy nhiên, người dân và chính quyền địa phương một số nơi vẫn chủ quan nghĩ rằng lũ nhỏ nên đã gia tăng diện tích lúa vụ 3. Bên cạnh đó, giá lúa tăng cao liên tục đã khiến cho người dân gieo sạ cả ở những vùng ngoài đê bao. Ngành chức năng cũng “giơ cao, đánh khẽ” khi mọi việc đã rồi. Tuy nhiên năm nay, lũ về bất ngờ đã khiến cho nhiều diện tích lúa bị mất trắng. Đây cũng là tổn thất nặng nề nhất khi sự chủ quan đã xuất hiện ở nhiều địa phương.
Từ những thiệt hại trong lũ 2011, một câu hỏi kinh tế đặt ra là: Nên chống lũ triệt để, tức là chống lại quá trình tự nhiên để tối đa hóa sản lượng lúa bằng cách bao đê và canh tác vụ 3, hay nên tối ưu hóa lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường bằng cách khác? Cần phải giải bài toán chi phí - lợi ích của việc canh tác lúa vụ 3 trong mùa lũ để xem giữa tổng lợi ích và tổng chi phí, cái nào lớn hơn?
Về vấn đề này, ông Phạm Văn Dư, Cục Phó Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng: “Sản xuất lúa của chúng ta cần sự phát triển lâu dài. Từng bước xác định rõ là có 3 vụ/năm. Riêng vụ Thu Đông cần phải ổn định hơn. Trong sản xuất, có những vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu. Vấn đề gieo sạ tràn lan, rải rác còn nhiều và cần chấn chỉnh”.
Trước khi mùa lũ về, hầu hết các địa phương đều báo cáo việc xây dựng đê bao, cụm, tuyến dân cư, đường giao thông đã vượt cao trình đỉnh lũ năm 2000. Vậy mà khi nước lũ tràn về, dù vẫn còn thấp hơn đỉnh lũ năm 2000, nhưng ở các huyện đầu nguồn của tỉnh An Giang, Đồng Tháp, nhiều tuyến quốc lộ đã bị ngập, tỉnh lộ bị chia cắt, hàng ngàn km đường giao thông nông thôn bị ngập sâu.
Thống kê đến ngày 20/10 cho thấy, đã có trên 6.000 ha lúa bị mất trắng do vỡ đê. Nhiều trường học được xây mới với thiết kế cao hơn mức lũ năm 2000 cũng bị ngập. 48 người chết trong lũ, hàng ngàn km bị sạt lở nghiêm trọng... Những con số này cho thấy thiệt hại không phải nhỏ. Vấn đề cần quan tâm là các địa phương nên kiểm tra lại cao trình xây dựng hệ thống giao thông, khu dân cư, trường học, đê bao… đã thật sự vượt đỉnh lũ năm 2000 chưa hay vẫn còn thấp hơn.
Ông Nguyễn Văn Dương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp thừa nhận: “Toàn tỉnh có nhiều hệ thống đê bao. Không phải chỗ đắp mới, mới có thể vỡ mà có những đoạn đã làm rất nhiều năm trước. Bởi vì do chân đê không chắc nên không đủ sức chịu lực. Đỉnh lũ như thế này là ngoài tưởng tượng của tỉnh trong chỉ đạo giai đoạn đầu”.
Theo thực tế mà các địa phương báo cáo, hầu hết các công trình thủy lợi thi công từ năm 2000 đến nay đều có cao trình trên mức lũ năm 2000 từ 30 - 50cm. Tuy nhiên 10 năm qua, lũ xuất hiện với mức thấp, thậm chí có năm không có lũ về, nên theo thời gian, các tuyến đê bị bào mòn, sạt lở, giảm khả năng chống chịu, nhất là đối với lũ lớn như năm nay.
![]() |
|
Bộ đội Quân khu 9 giúp dân gia cố đê chống lũ |
Bên cạnh đó, sở dĩ nhiều tuyến đê không chịu nổi áp lực nước lũ còn do năm nay mở thêm nhiều vùng sản xuất vụ ba, nhưng đê bao chưa đảm bảo cao trình lũ năm 2000. Ngoài ra, việc lắp đặt cống, họng bơm tưới của người dân khá nhiều cũng là nguyên nhân rò rỉ một số tuyến đê dẫn đến sạt lở. Công tác khắc phục hiện cứ làm theo kiểu “Nước tới đâu, dọn nhà tới đó”.
Một nguyên nhân nữa là tổn thất do mưa lũ, lụt bão gây ra rất lớn nhưng vì thủ tục hành chính còn nhiều bất cập, gây ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công tác hỗ trợ, cứu trợ. Thêm vào đó, cán bộ, lực lượng tham gia công tác phòng chống lụt bão tại cơ sở hầu hết đều làm kiêm nhiệm, không chuyên trách, thiếu sự đào tạo, bồi dưỡng, luyện tập thường xuyên về kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ nên việc lập và triển khai kế hoạch, phương án hàng năm chưa tốt.
Bài học “sống chung với lũ” cần học thường xuyên
Tại các địa phương đang chống chọi với lũ, điều đáng biểu dương là khi nguy cơ, bất trắc ập về thì cả cộng đồng như dồn về một khối để tập trung phòng chống. Tuy nhiên, lòng nhiệt tình vẫn chưa đủ mà cần hơn những khối óc. Khi lũ dữ cứ tiếp tục cuồn cuộn tràn về thì những biểu hiện của sự lúng túng đã xuất hiện do không lường trước được tình hình.
Đơn cử như việc bố trí dân vùng sạt lở vào nơi an toàn, ông Huỳnh Thế Năng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho rằng: “Ở nơi nào chưa có cụm tuyến dân cư, hoặc người dân chưa chịu về các cụm tuyến dân cư xa thì tạm thời bố trí ở những khu vực công cộng, bố trí ở nhờ nhà dân, bà con để qua lũ mới sắp xếp được”.
Ngoài những nguyên nhân như vừa nêu, chính ý thức của một bộ phận nhân dân về phòng chống lụt bão chưa cao nên thường chủ quan trước hiểm họa do lũ lụt gây ra, thiếu sự hợp tác với cơ quan chức năng, gây trở ngại cho công tác quản lý trong phòng chống lụt bão cũng như việc huy động công sức, kinh phí để ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. “Thấy vỡ cống cách xa hơn 20m nên dự kiến từ từ làm. Nhưng khi lũ lên lớn quá, khi đem lưới ra bắt được bao nhiêu hay bấy nhiêu”. Đây là tâm sự của ông Nguyễn Văn Đông, một người dân nuôi cá đã bị mất trắng cũng do…cứ từ từ.
![]() |
|
Gia cố đê bằng cách phủ bạt nylon tại Đồng Tháp |
Bên cạnh sự khó khăn của những hộ nghèo không thể xoay trở trong cuộc sống, chính suy nghĩ chờ đợi, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước đã làm cho họ xem thường cả mạng sống của mình. Trước tình hình nước lũ dồn xuống các địa phương cuối nguồn. Công tác gia cố đê và phòng chống sạt lở đã được nhiều địa phương triển khai quyết liệt nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại về người và của. Ấy vậy mà, nhiều người dân ở một số địa phương đã viện nhiều lý do để không chịu di dời.
Ông Nguyễn Quốc Ơn, một người dân ở huyện Lấp Vò đã được bố trí nền nhà nhưng vẫn không di dời khỏi nơi sạt lở. Lý do ông đưa ra là: “Lũ năm nay lớn quá, sạt lở diễn ra nhiều. Nhưng gia đình tôi là hộ nghèo, rất khó khăn. Không có tiền di dời. Vì vậy phải nhờ nhà nước thôi”
Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ làm hiện tượng hạn hán, mưa nắng bất thường, ngập lụt hàng năm ngày càng phức tạp và khó dự báo trước mối đe dọa đến sản xuất nông nghiệp. Do đó ở ĐBSCL, việc đầu tư nạo vét các tuyến kênh, xây dựng trạm bơm điện, cống điều tiết, nâng cấp các tuyến đê kết hợp làm đường giao thông nông thôn, tạo một hệ thống công trình tương đối hoàn chỉnh có khả năng điều tiết nước kịp thời vào mùa khô và tiêu thoát nước nhanh vào mùa mưa có ý nghĩa to lớn cho việc đảm bảo tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương./.
Kỳ cuối: Từ sống chung với lũ đến sống chung với biến đổi khí hậu


