Phải lấp “lỗ hổng” quản lý
Thay đổi nhận thức về vấn đề xử lý rác thải, quy hoạch lại vị trí các nhà máy và lấp “lỗ hổng” trong công tác quản lý môi trường là những nội dung cần làm trong thời gian tới để “bài học VEDAN” và những “phiên bản” sông Thị Vải không còn lặp lại.
Ở Việt Nam, những đơn vị tiên phong trong lĩnh vực xử lý chất thải thường phải đương đầu với rất nhiều thách thức. Mới đây, công bố quy hoạch vùng TP. HCM về môi trường tầm nhìn đến năm 2050 liên quan tới 7 địa phương là: Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Đồng Nai, Long An và Tiền Giang khẳng định, việc thoát nước bẩn, vệ sinh môi trường sẽ được thực hiện chung cho cả vùng.
Theo đó, cả vùng sẽ có chung hai khu liên hiệp xử lý rác thải sinh hoạt, rác công nghiệp; một khu xử lý rác thải công nghiệp độc hại, chất thải y tế độc hại. Thế nhưng khi triển khai ý tưởng này lại không hề đơn giản. Đã không ít địa phương phản ứng khi có ý kiến đề nghị xây dựng bãi rác, nhà máy xử lý chất thải trên địa bàn của mình. Thật lạ là người ta có thể chấp nhận cho chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại trôi nổi và gây hại cho môi trường, mà lại không chấp thuận cho xây dựng một nhà máy xử lý chất thải hiện đại. Thì ra thách thức lớn nhất đối với việc thực hiện quy hoạch vùng trong lĩnh vực vệ sinh môi trường không phải là nguồn vốn, nhân lực mà chính là tư tưởng cục bộ địa phương. Tất nhiên, sự né tránh xây dựng các nhà máy xử lý rác thải cũng có những căn nguyên của nó. Việc thiếu chặt chẽ trong quản lý, hạn chế trong công nghệ, quy trình xử lý rác thải là những nguyên nhân khiến người ta e ngại về những hệ lụy nhãn tiền.
Câu chuyện 14 năm sông Thị Vải bị “đầu độc” bởi nguồn chất thải xả thẳng từ Công ty VEDAN là một ví dụ điển hình. Dư luận hoan nghênh nỗ lực của cơ quan chức năng nhằm vạch trần hành vi phạm pháp của Công ty VEDAN sau nhiều tháng theo dõi. Nhưng nhiều câu hỏi lại được đặt ra: Tại sao Công ty VEDAN có thể “qua mặt” được cơ quan chức năng trong thời gian dài như thế? Vì sao Bộ Tài nguyên và Môi trường vẫn cấp phép cho Công ty VEDAN xả nước thải ra sông Thị Vải khi nhiều vấn đề chưa được làm rõ? Vấn đề là ở chỗ: nếu kiểm tra, giám sát nghiêm túc ngay từ đầu, thì sẽ không có “sự kiện VEDAN”!
Thảm họa từ vụ VEDAN cho thấy, tầm quan trọng của môi trường trong giai đoạn phát triển đã bị xem nhẹ, thiếu sót ngay từ các khâu thẩm định, xét duyệt, cho đến giám sát, kiểm tra các dự án. Éo le thay, trong khi thủ tục đầu tư nhiêu khê, không thể thiếu con dấu “môi trường” thì Luật Môi trường lại đầy khe hở, nhẹ tay và việc chấp hành còn co giãn. Đáng ngại là nhiều địa phương vẫn biết rằng khu công nghiệp địa phương mình đang gây ô nhiễm, song vẫn nhắm mắt cho qua vì tốc độ tăng trưởng và thành tích thu hút đầu tư. Hình như trong tiềm thức, chúng ta chưa quan niệm đúng đắn về chất thải và môi trường. Từ những chuyện tưởng nhỏ nhặt như: đặt quán ăn, nhà hàng ngay cạnh kênh, rạch, ao, hồ cho đến việc thoải mái cấp phép xây dựng các nhà máy, xí nghiệp gần các con sông lớn mà không xét xem kỹ hệ thống xử lý rác thải, đã dẫn đến hậu quả ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Những “phiên bản” của sông Thị Vải lại tiếp diễn trên sông Rào Trổ, Rào Gang, sông Lam, sông Tiền, sông Hậu hay bất kỳ con sông nào khác…
Không ít khu vực, sông hồ bị ô nhiễm nặng trở thành các khu vực “chết”, sông “chết”… nhưng không xác định được tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nào phải chịu trách nhiệm. Và khi lần tìm được thủ phạm thì việc xử phạt lại gây rất nhiều tranh cãi. Với hơn 300 văn bản pháp luật bảo vệ môi trường được coi là khá nhiều, thế nhưng vẫn thiếu nhiều quy định quan trọng, cụ thể. Điều đáng nói là hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường còn sử dụng những ngôn từ thiếu cụ thể, gây nhiều cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện.
Trong Luật Bảo vệ môi trường: “Sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường được phân làm 3 mức: mức 1 là có suy giảm, mức 2 là suy giảm nghiêm trọng và mức 3 là suy giảm đặc biệt nghiêm trọng”. Vậy “thế nào là nghiêm trọng, và thế nào là đặc biệt nghiêm trọng?” Tiêu chí nào để đánh giá? Khó có câu trả lời thống nhất trong việc áp dụng vào thực tế. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực, vì rất dễ trong việc xê dịch kết quả… Thêm nữa, đối với các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, chế tài xử phạt còn quá nhẹ. Mức phạt cao nhất mới là 70 triệu đồng trong khi đầu tư thiết bị xử lý môi trường phải lên tới hàng tỷ đồng. Với mức phạt này, doanh nghiệp sẵn sàng chịu phạt, để rồi lại xả thải ra môi trường. Lâu nay, người ta biện minh rằng ô nhiễm môi trường là hệ quả của tăng trưởng kinh tế.
Phải khẳng định rằng bảo vệ môi trường và phát triển bền vững không bao giờ là sự đánh đổi của tăng trưởng kinh tế mà là kết quả của sự lựa chọn chính sách và thực hiện nó. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế có thể gây tác động đến môi trường, do vậy chúng ta phải có chính sách đặc biệt đồng thời với phát triển kinh tế để cùng một lúc có thể đạt được cả hai mục tiêu, đừng vì cái gọi là công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế mà nhượng bộ hay nhằm mắt về môi trường, để rồi trở thành đồng lõa. Bài học từ VEDAN vẫn còn hiện hữu./.