Thà chết không lùi bước
Câu chuyện về người Chính trị viên kiên cường chấp nhận hy sinh về mình, quyết không để hàng hóa rơi vào tay giặc, vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức đồng đội
Cuộc đời anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu gắn liền với những chuyến vượt biển huyền thoại trên con tàu không số. Trong 10 năm chiến đấu ở đoàn tàu không số, ông đã chỉ huy con tàu 13 lần vượt biển thành công, vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam. Ông là một trong những cánh chim đầu đàn của Đoàn tàu không số huyền thoại cách đây 50 năm về trước.
Gia đình Anh hùng Nguyễn Văn Hiệu năm 1971. (Ảnh do gia đình cung cấp)
Giây phút biệt ly

Gặp ông Lê Hà, thuyền trưởng của con tàu mang bí số 645 tại nhà riêng của ông ở xã Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, câu chuyện giữa ông và chúng tôi về người chính trị viên mà ông rất kính phục cứ xốn xang, xao động.
Trên những tờ giấy A4 đã ngả mầu, chuyện kể về anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu, Chính trị viên tàu 645 được ông đánh máy cẩn thận gửi Ban Chỉ huy Lữ đoàn 125 cách đây 10 năm, nhân kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống mở đường Hồ Chi Minh trên biển tại Lữ đoàn 125 Hải quân, ông viết: “Tôi là Lê Hà, một thành viên của chiếc thuyền gỗ nhỏ bé của vùng miền Đông Nam bộ xuất phát từ bến Lộc An, Bà Rịa - Vũng Tàu. Đồng chí Hiệu - người anh đã từng dạy dỗ, dìu dắt tôi vượt qua mọi khó khăn gian khổ, và cũng từ đó anh giới thiệu tôi vào Đảng trong chuyến công tác vào Trà Vinh tháng 4/1963”.
“Anh biết không, trong số 97 liệt sĩ đã hy sinh trong những lần vận chuyển vũ khí vào Nam, đến nay duy nhất tìm thấy hài cốt mỗi anh Hiệu. Đã hơn 40 năm trôi qua, hình ảnh người Chính trị viên thân thương vẫn in đậm trong tim tôi”- ông Lê Hà bắt đầu câu chuyện về cuộc đời anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu với thông tin như thế.
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu người xã Thăng Phương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm 1951, ông rời gia đình vào Vệ quốc quân rồi được tập kết ra Bắc học tập và trau dồi lý tưởng. Sau đó, anh được điều chuyển về công tác tại xí nghiệp đánh cá Hạ Long. Năm 1961, chế độ Diệm lê máy chém khắp miền Nam, lùng sục bắt bớ, hòng đè bẹp phong trào cách mạng, Đoàn tàu không số được thành lập khẩn trương để chở vũ khí đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Để thỏa nguyện ước mơ cầm súng của mình, đầu năm 1962, ông Hiệu xin trở lại quân ngũ và điều về Đoàn 125 Hải quân chiến đấu.
Trước ngày vượt biển, ông Hiệu xin đơn vị về thăm vợ con 3 ngày. Đứa con trai cả của ông lúc ấy 14 tuổi tên Phương cứ nhìn bố trân trân. Dù thời gian dành cho vợ con ngắn ngủi, nhưng ông vẫn ra chợ mua giấy dầu lợp lại mái nhà đã dột mỗi lần trời mưa, và xin sẵn cho vợ con can dầu đổ bếp nấu cơm. Ông bảo: “Lần này anh đi xa, không biết ngày nào mới về. Em ở nhà chăm sóc con nhé”.
Ôm vợ và 4 con trong vòng tay, giọng ông nghèn nghẹn nói với Phương - con trai cả: “Con là lớn trong nhà, ở nhà chăm sóc các em và đỡ đần cho mẹ nhé”. Đó là buổi sáng ngày 16/3/1972, và không ngờ đó cũng là vòng tay tạm biệt lần cuối với vợ con, là lời nói cuối cùng của người chiến sĩ kiên cường.
Ông Hiệu bước ra khỏi căn nhà mà không dám ngoảnh nhìn lại, bởi đằng sau là người vợ đang khóc vì thương nhớ biệt ly, và 4 đứa con thơ dại nhìn theo bố.
Những ngày tháng 4/1972, thành phố Hải Phòng chìm trong bom đạn. Đế quốc Mỹ thực hiện chiến dịch “trên không”, đem bom B52 rải khắp nơi, khói bom đạn từ nhà máy, cầu cảng ngùn ngụt. Nguyễn Văn Hiệu bước xuống tàu 645 ra đi trong hoàn cảnh ấy. Hơn 1 tháng sau kể từ ngày chia ly vợ con, ngày 24/4/1972, ông đã anh dũng hy sinh trên vùng biển Tây Nam Tổ quốc, trong chuyến vượt biển chở vũ khí đạn dược từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam.
![]() |
|
Ông Lê Hà lục lại ký ức những ngày chiến đấu cùng Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu |
Thà hy sinh, quyết không để rơi vào tay giặc
Trở lại câu chuyện Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu anh dũng hy sinh trên vùng biển Tây Nam, ông Lê Hà nói: “Sự hi sinh của anh Hiệu là một tấm gương sáng cho chúng tôi noi theo. Sau khi anh hy sinh, tất cả chúng tôi đều quyết chiến đấu, sẵn sàng hy sinh chứ không nghĩ mình sống sót trở về”.
Ngày 23/4/1972, con tàu mang bí số 645, chở 70 tấn đạn cối cá nhân và 1 tấn thuốc nổ TNT cùng hàng hóa khác hải trình từ miền Bắc tới vùng biển Phú Quốc. Do địch phòng bố kiểm soát liên tục, nên tàu phải chuyển hướng đi về bến phía đảo Cô Công (Campuchia), cách Phú Quốc chừng 60 hải lý, chờ khi trời chập tối sẽ cho tàu cập bến.
Trước đó lúc 14h, tàu nhận được điện của Sở Chỉ huy báo về: “Đêm nay sẽ có thuyền đón ở mũi Cà Mau”, nhưng 17h lại điện "Bến động", buộc tàu quay ra hải phận quốc tế vòng tránh và giả vờ làm ngư dân đánh cá.
19h ngày 23/4, khi các thủy thủ đang chờ mệnh lệnh từ Sở Chỉ huy và sẵn sàng cập bến, thì bỗng xuất hiện một tàu khu trục địch từ Vịnh Thái Lan lao tới. Tàu khu trục rọi đèn pha sáng rực, đánh tín hiệu hỏi “tàu từ đâu đến và đi đâu”. Tàu 645 trả lời: "Tàu từ Trung Quốc xuống, bị lạc". Địch phát tín hiệu dừng tàu, nhưng tàu 645 lập tức tăng tốc nhằm chạy ra hướng biển Đông thoát khỏi tầm truy đuổi của địch. Ngay lập tức địch gọi máy bay bắn pháo sáng.
Trong ánh pháo sáng chói lòa, tàu 645 đã nhìn rõ phía trước có 3 tàu địch. Tàu 645 vẫn giữ tốc độ tiến nhanh ra vùng biển quốc tế. Chiếc khu trục 04 của Mỹ - Ngụy bám rất sát tàu ta, chúng tăng tốc cực độ với ý đồ bắt sống tàu 645.
Tình thế vô cùng gay cấn, quyết không thể rơi vào tay địch, thuyền trưởng Lê Hà và Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu đã bình tĩnh chỉ huy các thủy thủ chiến đấu. Giữa biển khơi, 2 con tàu vờn nhau đến 5h sáng ngày 24/4. Khi trời sáng rõ, địch đã xác định được tàu 645 là tàu "Bắc Việt giả dạng", chúng lập tức dùng loa dụ hàng nhưng các chiến sĩ trên tàu lờ đi.
Thấy gọi hàng không kết quả, địch nổ súng bắn uy hiếp. Từng loạt đạn xối xả rơi trước mũi tàu 645 vẫn không ép được tàu 645 dừng lại, địch bắt đầu bắn nhiều loạt đạn liên thanh 14 ly 5 thẳng vào tàu ta, gây thương vong cho một số thủy thủ. Tàu 645 vẫn kiên cường tăng tốc, một số quả đạn pháo lớn của địch bắn giữa thân tàu, làm thủng lỗ chỗ. Trước tình thế đó, Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu quyết định nổ súng chống trả quyết liệt. Các loại súng B40, B41, 12 ly 8 của ta hướng nòng về phía tàu địch đồng loạt nhả đạn. Lúc này địch tập trung hỏa lực đánh trả rất ác liệt. 4 thủy thủ San, Lân, Giang, Thẻ lần lượt trúng đạn và hy sinh. Một số anh em khác bị thương. 9h sáng ngày 24/4, tàu ta vừa cơ động ra xa, vừa đánh trả quyết liệt.
![]() |
|
Chiến sĩ Vùng 5 hải quân tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu ở Phú Quốc (Ảnh tư liệu gia đình) |
Khoảng 11h, một quả đạn lớn trúng vào xích lái, tàu ta không còn điều khiển được nữa phải chạy vòng tròn. Khi biết tàu hỏng lái không thể cơ động được nữa, Nguyễn Văn Hiệu đề nghị thuyền trưởng Lê Hà và ra lệnh cho anh em khoác áo phao nhảy xuống biển bơi vào bờ nhằm bảo toàn lực lượng, còn anh xin ở lại điểm hỏa bộc phá hủy tàu phi tang vũ khí hàng hóa. Chiến sĩ hàng hải Thẩm Hồng Lăng cũng xung phong ở lại cùng Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu rời tàu cuối cùng. Khi các thủy thủ đã xuống nước, Hiệu và Lăng nán lại thu tập tài liệu để hủy. Khi 2 anh đã khoác áo phao định xuống cùng đồng đội, thì phát hiện một tình huống vô cùng nguy hiểm, tất cả 15 thủy thủ đều bị thương, mọi người đang cố gắng sức mình cụm lại một khối dìu nhau mà bơi.
Chiếc tàu thì mất lái cứ chạy vòng tròn, có lúc tiến đến gần anh em thủy thủ đang bơi, lúc dạt ra xa. Trong giây phút hiểm nghèo ấy, Nguyễn Văn Hiệu nghĩ: Nếu hủy tàu gần vị trí các thủy thủ đang bơi thì vô cùng nguy hiểm, có thể khiến tất cả sẽ hy sinh. Phải cho tàu cách xa anh em ở khoảng cách an toàn. Mình sẵn sàng hy sinh, còn anh em phải sống. Nghĩ vậy, anh cố gắng lái tàu xa dần vị trí các thủy thủ. Lúc này trên tàu chỉ còn Nguyễn Văn Hiệu và Thẩm Hồng Lăng.
Ánh mắt người chính trị viên vốn bình thường đầy nghiêm khắc, sao lúc này bỗng dịu dàng thân thương đến lạ kỳ. Anh nói với Lăng, nửa như ra lệnh, nửa như khẩn khoản: "Em còn trẻ, còn cống hiến được lâu, được nhiều hơn anh. Anh đã có vợ con, em thì chưa kịp có người yêu, thôi Lăng nhảy xuống biển bơi cùng anh em đi...".
Ứa nước mắt thương người đồng đội, người Chính trị viên của mình, nhưng Lăng vẫn quyết không rời tàu, bởi anh không muốn để anh Hiệu một mình hy sinh. Lăng vờ như không nghe thấy, cứ lúi húi ngồi đốt hủy tài liệu trên boong tàu. Nói nhỏ không được, Hiệu quát to: "Đồng chí về báo cáo với Đoàn là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, cho tôi gửi tới anh em lời chào chiến thắng", rồi bất ngờ anh lao tới đẩy Lăng xuống biển.
Chới với giây lát, từ dưới biển nhìn lên, Lăng vẫn thấy rõ anh Hiệu đang quay lưng lại, chậm rãi bước về phía cột cờ, nơi cao nhất của con tàu, nơi để đoạn dây điện nối với kíp điểm hỏa bộc phá. Khi Lăng đã nhập được vào gần tốp anh em bơi trên biển, khi vị trí con tàu ở xa đồng đội nhất, Nguyễn Văn Hiệu giật dây kíp nổ tàu.
![]() |
|
Lễ viếng Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu (Ảnh do ông Lê Hà cung cấp) |
Một ánh chớp lóe lên, kế đó là một tiếng nổ cực mạnh, một cột lửa đỏ cùng với cột sóng cao hàng chục mét dựng lên giữa biển xanh. Những mảnh vỡ của con tàu văng tung tóe sang cả chiếc khu trục của địch đang hằm hè gần đó làm bọn địch trên tàu kinh hồn bạt vía. Tàu 645 thân yêu cùng người Trung úy Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu đã hy sinh kiên cường như thế. Lúc đó là 11h30 ngày 24/4/1972.
15 thủy thủ sau khi nhảy xuống biển và bơi được một đoạn dài, liền bị địch dùng trực thăng và tàu quây bắt. Chúng đem về Sài Gòn rồi nhốt tại khám Chí Hòa, người thì bị giam ngay tại nhà tù Phú Quốc. Năm 1973, sau Hiệp định Paris, 15 chiến sĩ được trao trả. 4 thủy thủ là San, Lân, Giang, Thẻ bị trúng đạn hy sinh, vĩnh viễn nằm lại biển xanh khi tuổi đời còn trẻ. Cho đến bây giờ, hài cốt của các anh vẫn chưa được tìm thấy./.
Kỳ cuối: Tên anh thành tên đảo nhỏ


