Thương nhớ nhà ngoại giao, nhà báo Lý Văn Sáu
Tôi viết bài báo này bày tỏ tấm lòng thành của mình trước vong linh chú.
Tôi thường gọi cụ Lý Văn Sáu - cán bộ tiền khởi nghĩa, nhà ngoại giao, nhà báo - là chú Sáu. Chú Sáu kém cha tôi 6 tuổi, là dân xứ Nghệ, luôn dành cho tôi tình cảm ấm áp.
Cụ Lý Văn Sáu (sinh năm 1924) từng là cố vấn và người phát ngôn của Phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris về Việt Nam. Một lần đến thăm, cụ kể: “Trong cuộc họp báo quốc tế đầu tiên của Đoàn, một nhà báo Mỹ đưa tấm bản đồ và hỏi “Các ngài khoe là đã giải phóng được 2/3 đất đai ở miền Nam Việt Nam. Vậy, hãy chỉ những vùng giải phóng?”.
Biết đây là câu hỏi khiêu khích, ông điềm tĩnh trả lời: “Ông muốn biết đâu là vùng giải phóng của chúng tôi ư? Xin cứ đọc thông báo của Bộ chỉ huy quân đội Mỹ hôm nay. Những nơi nào máy bay Mỹ ném bom, thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi”.
Cụ cười, vỗ vai tôi nói thêm: “Sau ngày miền Nam được giải phóng, một cán bộ Trung ương Cục gặp chú nói trong niềm vui: “Hồi ấy tụi này đang nằm dưới hầm, bom Mỹ nổ rền trên đầu, qua đài BBC nghe cậu nói với các nhà báo như vậy, khoái quá”. Tôi cũng mang tình cảm ấy, liền ôm lấy chú thốt lên: “Tài quá! Nhanh trí quá! Chú cứ như ông trạng ngày xưa đi sứ”.
Sau ngày đất nước thống nhất, cụ Lý Văn Sáu được cử giữ chức Phó Chủ nhiệm ủy ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam. Thế là, tôi trở thành lính phát thanh của cụ. Rồi cụ được phân phối nhà ở tại khu tập thể Ngã Tư Vọng, Hà Nội, tôi có thêm may mắn được ở gần cụ.
Thấy tôi vượt khó học ngoại ngữ, cụ khuyến khích: “Nếu cần thì chú chuyển cháu sang Phòng tiếng Anh một thời gian để vừa học vừa làm, học ngoại ngữ cần môi trường ngoại ngữ”. Cụ còn dẫn lời Bác Hồ: “Các nhà báo cần tinh thông ít nhất một ngoại ngữ để còn học cách làm báo của người ta”.
Trong những đợt cụ ốm phải nằm điều trị tại bệnh viện, cụ nghe đài này đài nọ suốt ngày. Chúng tôi vào thăm, cụ nói về bệnh tình của mình thì ít mà nói về thời cuộc và nghiệp vụ báo chí thì nhiều. Cụ nhận định: “Khi giải quyết mâu thuẫn giữa các nước, điều cần thiết là phải coi trọng quyền dân tộc cơ bản của mỗi nước liên quan.
Sau giai đoạn thù địch, chóng hay chầy đôi bên cũng sẽ trở thành đối tác làm ăn. Do vậy, người làm báo phải nhanh nhạy và hơn thế phải biết dự báo thời cuộc để nói cho trúng”. Qua từng câu chuyện, tôi hiểu nhà ngoại giao kiêm nhà báo này yêu “Tiếng nói Việt Nam” lắm và rất giỏi vận dụng chủ trương chính sách trong tuyên truyền.
Những điều cụ Lý Văn Sáu nói và làm đều có cội nguồn. Năm 1945, cụ tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Yên Thành, Nghệ An rồi vào Nam tham gia kháng chiến ở Khánh Hòa. Đầu năm 1946, mặt trận Khánh Hòa vỡ, cụ được điều lên chiến khu, chuyên theo dõi Đài TNVN để làm bản tin hằng ngày phục vụ quân và dân trong tỉnh.
Cụ lần trong trí nhớ và kể: “Một sáng mùa thu 1946, dò được làn sóng Đài TNVN, khi Quốc ca nổi lên, chú sung sướng đứng phắt dậy làm động tác chào cờ. Không may, đầu đụng vào mỏm đá trong hang núi Hòn Dữ - nơi đặt máy thu thanh và máy nổ, máu thấm ướt tóc. Cũng tại đây chú còn được đồng đội đặt cho bí danh “Đại Tây” (tức là đậy tai), vì chú suốt ngày mang cặp tai nghe để nghe đài”.
Qua quá trình miệt mài công tác, gắn bó với đồng nghiệp, nhân dân, say sưa học tập, tu dưỡng, nghiên cứu, cụ không ngừng trưởng thành, bản lĩnh chính trị vững vàng, vốn hiểu biết sâu rộng, trình độ ngoại ngữ tốt, sống liêm khiết và khiêm nhường, lại có nhiều bạn bè quốc tế...
Cũng chính từ vốn quý ấy mà trong những năm làm công tác báo chí khá bận rộn ở Uỷ ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam, rồi cả vị trí Phó tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam về sau, cụ vẫn được Đảng và Nhà nước nhiều lần điều động đi làm công tác ngoại giao và dự họp quốc tế. Lần nào cụ cũng được đánh giá là hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Hai chục năm qua, cụ Lý Văn Sáu nghỉ hưu, vui với đàn cháu và viết hồi ký. Tôi noi gương cụ, cũng đọc và viết. Có gì bí, tôi chạy sang nhà cụ là được giải đáp. Nhưng bây giờ không còn được tiếp diễn cảnh ấy nữa rồi.
Cụ Lý Văn Sáu, cán bộ tiền khởi nghĩa, nhà ngoại giao, nhà báo, thủ trưởng một thời của tôi và là người chú kính yêu của tôi đã về cõi trời để gặp cụ bà Ngô Thị Ngọc Ánh, người vợ cũng là cán bộ tiền khởi nghĩa, đúng dịp kỷ niệm lần thứ 37 Ngày giải phóng miền Nam (30/4/2012).
Thương nhớ chú, tôi viết bài báo này bày tỏ tấm lòng thành của mình trước vong linh chú./.