Vực dậy làng nghề
Phó cục trưởng Cục Lao động và việc làm (Bộ LĐ-TB & XH) Tào Bằng Huy: "Nghe thông tin 5 triệu lao động làng nghề mất việc, anh em trong Cục ai nấy đều giật mình..."
Cuộc họp bàn các giải pháp tháo gỡ khó khăn, khôi phục và phát triển sản xuất các làng nghề phía Bắc do Bộ NN&PTNT tổ chức đã diễn ra hôm qua (11/2), tại Hà Nội.
Lao động mất việc hàng loạt
Số liệu thống kê từ 38 tỉnh, thành cho thấy, hiện tại đã có 9 làng nghề chính thức phá sản, 124 làng nghề đang sản xuất cầm chừng do gặp khó khăn (chiếm khoảng 10% tổng số các làng nghề). Việc phá sản của các làng nghề đã làm ít nhất 2.166 hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh phá sản; 468 doanh nghiệp (DN) sản xuất cầm chừng (chiếm 16%). Đáng lưu ý, theo Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát, đây là những con số thống kê cách đây… 2 tháng!
Thực tế, tại Bắc Ninh, một trong những tỉnh có nhiều làng nghề nhất, tình hình sản xuất của hầu hết các làng nghề đang rất bi đát, nhất là đối với các làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, sắt thép và giấy. Làng nghề Đồng Kỵ có 200 DN thì 70 – 80% số DN đã ngừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng. Còn tại làng nghề sản xuất giấy Phong Khê (Yên Phong), trong số 500 DN của làng đã có tới 50% số DN ngừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng, với số vốn tồn đọng tại mỗi DN tới vài ba tỉ đồng. Ở làng nghề sản xuất sắt thép Đa Hội, số sắt thép tồn đọng cũng lên tới vài trăm nghìn tấn.
Nghiêm trọng hơn, tình hình khó khăn đối với các làng nghề này dự báo có thể sẽ kéo dài hết năm 2009, nhất là nghề gỗ mỹ nghệ và giấy. Hiện tại, ở Đồng Kỵ hầu như không có đơn đặt hàng xuất khẩu nào được ký kết, trong khi có tới 70% sản phẩm ở làng nghề Đồng Kỵ được làm ra là để xuất khẩu.
Ông Đặng Minh Ngọc, Giám đốc Sở NN&PTNT Hưng Yên cho biết: “Từ tháng 12/2008, trên 40% số DN làng nghề trong tỉnh Hưng Yên đã giảm năng lực sản xuất xuống dưới mức bình thường. Đến nay, tỷ lệ này có thể nâng lên 45 - 50%. Thực trạng số lao động không có việc làm thường xuyên và mất việc chắc không dưới 30%”. Trong khi đó, ông Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội làng nghề Việt Nam cảnh báo: “Hiện nay, cả nước có khoảng 2.790 làng nghề, thu hút khoảng 11 triệu lao động. Nhưng qua khảo sát thực tế tại một số tỉnh miền Bắc, miền Trung và tại Quảng Nam, Bến Tre cho thấy, số lao động mất việc tại các làng nghề có thể lên đến 50%, tương đương với 5 triệu người. Đây là một con số có thật”.
Liên quan tới thông tin này, ông Tào Bằng Huy, Phó cục trưởng Cục Lao động và việc làm cho rằng: Hiện nay, chưa có số liệu thống kê chính thức về số lao động làng nghề mất việc mà đây mới chỉ là dựa trên con số của một số DN, làng nghề và địa phương nên chưa thể tính chung cho cả nước được.
Hành động cấp bách
Theo Bộ NN&PTNT, nếu trong thời gian tới, Nhà nước không có các giải pháp cấp bách, kịp thời, tình hình phá sản của các làng nghề có thể còn nhiều hơn nữa và hệ luỵ tiếp theo là số lao động mất việc làm còn tăng lên, đẩy gánh nặng cho xã hội. Bộ trưởng NN & PTNT Cao Đức Phát nhận định: “Nếu chỉ 10% làng nghề ngừng sản xuất sẽ khiến hơn 1 triệu lao động bị mất việc làm, trong khi con số các tỉnh báo cáo lên đều ở mức 30-50% thì số lao động mất việc sẽ vào khoảng 3-4 triệu người. Đây là con số rất lớn”. Chính vì thế, Bộ trưởng Cao Đức Phát đề nghị, phải có giải pháp “cấp bách của cấp bách” để tháo gỡ khó khăn cho làng nghề, vì nó liên quan tới một số lượng lớn người lao động.
Nhiều ý kiến cho rằng, để tháo gỡ khó khăn cho làng nghề, trước hết cần tập trung vào tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm. Đây là vấn đề sống còn của làng nghề. Do thị trường thế giới ngày càng thu hẹp trong khi các sản phẩm của làng nghề xuất khẩu chiếm tới 70% thị phần, nên trước mắt cần phải hướng tới thị trường nội địa, đặc biệt là những điểm, tuyến du lịch làng nghề. Nhưng để thực hiện được giải pháp này, các DN đề nghị Chính phủ nên tăng vốn xúc tiến thương mại để quảng bá các sản phẩm làng nghề.
Việc tiếp cận với nguồn vốn vay 4% theo gói kích cầu của Chính phủ cũng được các DN quan tâm. Tuy nhiên, hầu hết các DN nhỏ và vừa của làng nghề đều lo ngại vì khó tiếp cận được nguồn vốn này. Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước, để vay được nguồn vốn ưu đãi này, DN phải có phương án, đề án kinh doanh khả thi và có khả năng trả nợ. Thế nhưng, ông Đinh Ân Trung, Giám đốc Công ty cổ phần Trường Tiến (Nam Định) cho rằng, khó có DN làng nghề nào đáp ứng được đầy đủ 2 điều kiện cần và đủ do ngân hàng đặt ra. Theo ông Trung, ngân hàng nên xem xét cho vay theo hiệu quả, doanh số kinh doanh của năm, hoặc xem xét số việc làm được tạo ra trong doanh nghiệp. Như vậy, DN mới tiếp cận được vốn và duy trì tạo việc làm cho người lao động.
Nhìn ở góc độ lâu dài, ông Lưu Duy Dần cho rằng: “Chúng ta cần có 3 giải pháp lớn: Hình thành ngay Ban Chỉ đạo Nhà nước về tư vấn phát triển bền vững các làng nghề; hình thành Quỹ Hỗ trợ bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống (240 làng); Quy hoạch phát triển các làng nghề theo hướng “mỗi làng một nghề” như ở các nước xung quanh đã làm./.