Người anh em thứ 55

Năm 2009 sẽ là thời điểm diễn ra một sự kiện quan trọng trong lịch sử phát triển của cộng đồng Việt Nam: Công nhận Pa Cô là dân tộc thứ 55.

Dải đất biên giới Việt – Lào chạy dài hơn 200 cây số từ huyện A Lưới, TT- Huế vắt sang hai huyện Hướng Hoá và Đa Krông, Quảng Trị là đất sống lâu đời của người Pa Cô cổ và của gần 20 nghìn đồng bào dân tộc thiểu số người Pa Cô hiện nay. Có thể xem A Lưới như là “thủ phủ” của cộng đồng Pa Cô khi có đến 8/12 xã của huyện miền núi này có người Pa Cô sinh sống, trong đó bốn xã người Pa Cô chiếm đa số tuyệt đối về mặt dân số là Hồng Thuỷ, Hồng Bắc, Hồng Trung, Hồng Vân. Đó cũng là địa bàn mà các nhà khảo cổ đã tìm thấy rìu bôn đá thuộc hậu kỳ thời đại đồ đá mới cách nay từ 3.500 đến 5.000 năm. Như vậy, tổ tiên người Pa Cô, cùng tổ tiên của các tộc gần gũi như Tà Ôi, Vân Kiều, Cơ Tu..., từng là chủ nhân của những di vật văn hoá cổ xưa này. Nói cách khác, tổ tiên họ là thế hệ cư dân bản địa sớm nhất trên vùng đất cổ Thừa Thiên - Quảng Trị.

Từ lâu, hai dân tộc Pa Cô và Tà Ôi dường như bị lẫn vào nhau, không chỉ trong văn bản hành chính mà cả trong cách nhìn nhận của một số nhà khoa học. Thậm chí trên sách, báo có tác giả viết “Dân tộc Tà Ôi có nhiều tên gọi khác nhau như Tôi Ôi, Pa Cô, Ba Hi, Pa Hi...”. Có tác giả viết “Các dân tộc Pa Cô gồm Tà Ôi, Pa Hi, Cờ Tu...”. Ấy là do hai dân tộc này có nhiều điểm tương đồng trong phong tục tập quán và tiếng nói. Kết quả khảo sát của các nhà khoa học cho thấy người Pa Cô và người Tà Ôi hiểu được tiếng nói của nhau dễ dàng, gần như đến 90%. Cho nên, trong quá trình sáng tạo chữ cho người Pa Cô, ông Hồ Ngọc Mỹ đã cân nhắc khi đặt tên: “Bộ chữ viết Pa Cô – Tà Ôi”. Tuy nhiên, chính ngữ nghĩa đã góp phần chỉ ra rằng Pa Cô và Tà Ôi không phải là một. Pa Cô, trong ngôn ngữ Pa Cô – Tà ôi, có nghĩa là “Người ở núi cao”. Có thể đó là cách người Tà Ôi gọi người Pa Cô để phân biệt. Cũng có thể là người Pa Cô tự xưng, cũng để phân biệt.

Mặc dù ngành dân tộc học đã đưa ra ba tiêu chí để xác định thành phần dân tộc: 1/ Ngôn ngữ riêng 2/ Văn hoá riêng 3/ Ý thức dân tộc, nhưng chuyện nhầm lẫn hay xếp đặt chưa thật ổn thoả, chưa thật khoa học trong việc thẩm định tính chất đặc trưng để tiến đến xác nhận thành phần dân tộc đối với một số cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn đang diễn ra ở nước ta. Chẳng hạn người Nguồn, người Arem ở Quảng Bình đang được coi là hai tộc thuộc dân tộc Chứt. Riêng người Nguồn “long đong” hơn: Một số nhà khoa học xếp họ vào dân tộc Thổ, trong khi nhóm nhà khoa học khác xếp họ vào dân tộc Mường, thậm chí đồng thời có nhóm nhà khoa học khác nữa muốn xếp họ vào dân tộc Kinh. Đáng băn khoăn là người Chứt và người Nguồn được xếp chung hệ ngôn ngữ Việt - Mường, nhưng trong đời sống thực tế, hai cộng đồng thiểu số này không hiểu được tiếng nói của nhau! Cho nên, thông tin tỉnh TT- Huế đầu tư khảo sát, lập hồ sơ đề nghị Nhà nước công nhận Pa Cô là dân tộc thứ 55 trong đại gia đình Việt Nam không chỉ là tin vui đối với riêng người Pa Cô. Bạn tôi, Hồ Quỳnh T. nói: “Đã sáu tháng nay, từ khi có đề án bổ sung dân tộc Pa Cô vào danh mục các dân tộc Việt Nam, nhiều lần tôi phải làm “giao liên” đưa nhà báo lên thăm các xã Pa Cô. Anh là người chậm chân đấy nhé.

Đây là lần thứ ba tôi gặp T. Lần đầu tiên cách đây hơn 20 năm, bằng một bản tin tiêu cực tình cờ chép được ở một cuộc họp HĐND tỉnh TT - Huế. Rằng thanh tra Sở LĐTBXH phát hiện một trưởng thôn cả gan lập hồ sơ giả để một phụ nữ lãng trí trong thôn được nhận suất trợ cấp chính sách dành cho đối tượng vợ liệt sĩ. Hồi ấy, tôi chỉ “nghe nói” anh chàng Pa Cô này còn rất trẻ, tốt nghiệp trường thanh niên dân tộc nội trú, và cũng là con trai của một liệt sĩ. Tất nhiên anh ta bị kỷ luật và tìm đường đi học đại học. Lần thứ hai là dịp tôi chú ý chọn một doanh nhân trẻ điển hình để viết phóng sự. Anh này vừa trồng rừng hàng trăm héc ta ở Bắc miền Trung, vừa mở trại nuôi tôm giống ở Nam miền Trung. Gặp mới biết chính là “nguyên trưởng thôn” mười năm trước, Hồ Quỳnh T. Và tôi hiểu thêm về “đằng sau một bản tin”: Người phụ nữ ấy đúng không phải là vợ liệt sĩ, nhưng chị đã chờ đợi chồng chưa cưới đi tập kết ra Bắc hơn 20 năm, thay vì hai năm theo Hiệp định Genève, và sau năm 1975 không thấy trở lại, chị vẫn chờ, chờ đến mất trí. “Luật là luật và tôi đã trả giá. Nhưng một suất chính sách cho một người như thế có đáng không hả ông?”. T. hỏi tác giả “bản tin xấu” như thế và tôi đã im lặng. Bây giờ, lại thêm một chặng mười năm trôi qua, tôi tìm T. Và anh đồng ý đưa tôi “về nhà”, khi tóc cả hai đã điểm bạc.

Trên đường đi, tôi hỏi: “Họ Hồ của T thì mình biết rồi. Năm 1969, bà con trên này tự nguyện mang họ Hồ để tỏ lòng thương tiếc Bác Hồ vừa đi xa. Còn Quỳnh có phải là họ Pa Cô ghép vào?”. “Không đúng. Người dân tộc thiểu số vùng này trước đây đã có họ riêng, đặt theo cây cối, muông thú, như Arâl, Târnau, Kê, Pata, Plo, Prung... “Quỳnh” chỉ là tiếng xác định giới tính, đàn ông – con trai, cũng gọi “Ku”. Trong khi đó “Kăn” chỉ đàn bà – con gái, như nữ anh hùng Kăn Lịch...”. Câu chuyện của chúng tôi bị gián đoạn khi anh lái xe bất thần lạng chiếc ôtô sát mép ta-luy âm để kịp tránh mấy chiếc xe gắn máy bạt mạng lao xuống đèo với những thanh gỗ xẻ đặt ngang. T chuyển đề tài: “Người Pa Cô, Tà Ôi ngày trước bảo vệ rừng nghiêm lắm. Chúng tôi phân ra ba loại rừng: Rừng thiêng là nơi ở của thần linh, thường có những cây đa, cây đào hàng trăm năm. Rừng đầu nguồn là nơi giàu cây, giàu thú. Hai loại rừng này cá nhân không được xâm phạm. Chỉ có thể đốt rẫy, chặt củi ở rừng nghèo thôi. Trong luật tục đã có sẵn nội dung bảo vệ rừng, cũng là bảo vệ tài sản cộng đồng: Chặt cây ở rừng giàu phải có phép của chủ làng và chủ làng chỉ cho phép trong ba mục đích: Làm nhà, đóng thuyền và làm quan tài. Cấm kỵ việc chặt cây lấy gỗ để trao đổi hàng hoá, mua bán. Ai vi phạm sẽ bị làng phạt nặng. Đã thế, trước khi đốn cây rừng phải làm lễ cúng rừng như một lời xin lỗi, một lời cảm ơn rừng...”.

Trang trại của T nằm ven con suối và gần như ở “ngã ba biên giới”. Biên giới Việt – Lào và ranh giới hai tỉnh TT - Huế - Quảng Trị. Một ngôi nhà sàn dài gần 20 mét nhô lên sau rừng cây thu hút ngay cái nhìn đầu tiên của khách. T nói: “Chỉ là mô hình thôi, không còn là “nhà” đúng nghĩa nữa rồi. Mình cho làm cái đinh a choar này để “nhớ” một kiến trúc văn hoá Pa Cô gần như đã biến mất”.

Cái sang của trang trại đang hình thành của Hồ Quỳnh T. là không nhằm mục đích kinh tế. “Việc Pa Cô đang được xem xét công nhận là một dân tộc của Việt Nam đã kích thích tôi đầu tư vào nơi nghỉ dưỡng này. Tôi chọn rẻo cao heo hút để “bảo lưu” những nét đẹp Pa Cô giờ đã trở nên quá mong manh...”. Từ bếp lửa gian bên cạnh, một nữ nhân công mang sang gian khách một đĩa lợn luộc bốc khói trắng thơm lừng cho ông chủ mời khách nhắm rượu. Lợn Vân Pa chính hiệu Pa Cô. Và qua ô cửa mắt cáo ngôi nhà dài, tôi có thể phóng tầm mắt dài theo rẫy lúa Zadư, trong ngôn ngữ Pa Cô là “lúa thiêng”, một giống lúa thơm dẻo đặc biệt nhưng bị chính người Pa Cô lãng quên vì năng suất thấp so với các giống lúa mới. Cũng từ đấy tôi có thể nghe được tiếng chim lạ chưa từng nghe. Sau này mới biết là chim Tutot. Nó báo cơn mưa rừng sắp kéo đến từ phía đất Lào./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.