Gỡ vướng thủ tục môi trường, không buông lỏng kiểm soát ô nhiễm
VOV.VN - Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu Quốc hội đề nghị đơn giản hóa thủ tục đánh giá tác động môi trường, phân cấp hợp lý cho địa phương, đồng thời tăng cường hậu kiểm, giám sát xả thải và bảo đảm đồng bộ.
Gỡ vướng thủ tục, nâng cao hiệu quả quản lý
Tại Tổ 6, gồm Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên và tỉnh Tây Ninh, góp ý về khoản 1 Điều 34 liên quan đến thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), đại biểu Vũ Hồng Luyến (Hưng Yên) cho rằng, quy định yêu cầu hoàn thành quy hoạch chi tiết xây dựng trước khi đề nghị thẩm định ĐTM giúp siết chặt quản lý nhà nước đối với các dự án lớn, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm cao.
Tuy nhiên, đại biểu lưu ý, trình tự này có thể kéo dài thời gian lập dự án, gia tăng thủ tục hành chính và làm chậm tiến độ chuẩn bị đầu tư. Trong khi đó, việc thiết kế quy hoạch chi tiết cũng cần dữ liệu, thông số và giải pháp bảo vệ môi trường từ kết quả ĐTM. Do đó, đại biểu đề nghị làm rõ thời điểm đề nghị thẩm định ĐTM theo hướng có thể thực hiện trước khi cấp phép xây dựng hoặc trước khi quyết định đầu tư, phê duyệt dự án, thay vì bắt buộc phải hoàn thành quy hoạch chi tiết rồi mới tiến hành đánh giá tác động môi trường.
Liên quan đến phân loại, lưu giữ, chuyển giao chất thải rắn sinh hoạt tại Điều 75, đại biểu Vũ Hồng Luyến đánh giá cao việc trao quyền chủ động cho UBND cấp tỉnh, phù hợp với hạ tầng, công nghệ xử lý và điều kiện kinh tế - xã hội từng địa phương. Tuy nhiên, thực tế còn tình trạng hạ tầng thiếu đồng bộ, thiếu nhà máy tái chế đạt chuẩn và chưa thống nhất về quy chuẩn phân loại rác giữa các tỉnh, thành phố.
Đại biểu đề nghị nghiên cứu ban hành bộ tiêu chuẩn chung toàn quốc về màu sắc, nhãn mác, quy cách bao bì, thùng rác; đồng thời quy định trách nhiệm ưu tiên bố trí ngân sách và quỹ đất cho các công trình xử lý chất thải sinh hoạt tập trung, ứng dụng công nghệ hiện đại.
Tán thành quan điểm này, đại biểu Nguyễn Thị Thúy Ngần dẫn số liệu tổng kết thi hành Luật cho thấy, năm 2025, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt khoảng 97,59% tại đô thị và 84,14% tại nông thôn. Tuy nhiên, chất thải thực phẩm chiếm trên 50% tổng lượng rác sinh hoạt, trong khi năng lực xử lý thành phân hữu cơ chỉ đáp ứng gần 13%.
Theo đại biểu, vấn đề không chỉ nằm ở việc người dân phân loại rác tại nguồn mà còn ở khả năng xử lý sau thu gom, nhằm tận dụng tài nguyên từ chất thải và giảm lượng rác chôn lấp. Bà đề nghị yêu cầu phân loại riêng chất thải thực phẩm tại những địa bàn đủ điều kiện thu gom, xử lý; nơi chưa đáp ứng được thì phân loại tối thiểu hai nhóm theo lộ trình do Chính phủ quy định. Đồng thời, cần rà soát sự thống nhất giữa Điều 75 và Điều 78, bảo đảm phương án phân loại phù hợp với công nghệ xử lý, tránh đầu tư lãng phí và giảm hiệu quả tái chế.
Giảm tiền kiểm phải đi đôi với hậu kiểm thực chất
Về cơ chế bảo đảm tuân thủ pháp luật, đại biểu Lê Thị Thúy Sen (Đoàn Hưng Yên) đề nghị thiết kế chế tài đủ mạnh đối với hành vi vi phạm, gây ô nhiễm môi trường, kết hợp tuyên truyền để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng.
Đại biểu Nguyễn Đình Xuân (Đoàn Tây Ninh) cho rằng cần tăng cường kiểm tra, giám sát thường xuyên, liên tục đối với hoạt động bảo vệ môi trường của doanh nghiệp. Theo đại biểu, nếu chỉ tập trung tăng mức xử phạt mà thiếu cơ chế giám sát phù hợp có thể phát sinh tiêu cực. Ông đồng thời đề nghị tiếp tục cắt giảm thủ tục, đẩy mạnh phân cấp gắn với trách nhiệm của chính quyền các cấp và bổ sung vai trò, quyền hạn của các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát, phản biện xã hội bên cạnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tại Tổ 12, gồm Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ và tỉnh Cà Mau, đại biểu Đặng Bích Ngọc (Phú Thọ) đồng tình giảm thủ tục ĐTM đối với dự án ít có nguy cơ gây tác động xấu đến môi trường, nhưng đề nghị phân biệt rõ đánh giá môi trường cấp khu vực với đánh giá tác động của từng dự án cụ thể.
Theo đại biểu, dự án nằm trong khu công nghiệp và sử dụng hệ thống xử lý nước thải tập trung không đồng nghĩa các nguy cơ về khí thải, mùi, tiếng ồn hay những tác động khác đã được kiểm soát. Việc miễn ĐTM cần căn cứ vào ngành nghề, công nghệ, tính chất chất thải và khả năng tiếp nhận của hạ tầng môi trường; khi xuất hiện rủi ro mới, cần có cơ chế đánh giá bổ sung.
Đại biểu nhấn mạnh, cắt giảm đối tượng phải thực hiện ĐTM, chuyển sang cấp giấy phép hoặc đăng ký môi trường phải đi đôi với hậu kiểm tương xứng. Đối với Điều 41 về thẩm quyền cấp giấy phép môi trường, bà ủng hộ tăng phân cấp cho địa phương nhưng đề nghị bổ sung cơ chế lấy ý kiến địa phương chịu tác động trực tiếp đối với dự án có nguy cơ ảnh hưởng liên tỉnh, quy định thời hạn phản hồi và đầu mối giải quyết bất đồng. Việc kiểm soát tổng tải lượng ô nhiễm trên cùng lưu vực cũng cần hệ thống dữ liệu thống nhất và cơ chế điều phối phù hợp.
Góp ý Điều 46 và Điều 48, đại biểu đề nghị quy định rõ trách nhiệm chủ dự án trong việc chứng minh công trình xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu trước khi vận hành chính thức, lưu giữ kết quả vận hành, quan trắc và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền. Việc lựa chọn đối tượng hậu kiểm cần dựa trên mức độ rủi ro, lịch sử tuân thủ, kết quả quan trắc và phản ánh có căn cứ của người dân; đồng thời kiểm tra kịp thời khi dữ liệu vượt ngưỡng hoặc công trình xử lý ngừng hoạt động. Kết quả xử lý vi phạm và tiến độ khắc phục cũng cần được công khai.
Phân loại rác phải gắn với năng lực xử lý
Về phân loại chất thải rắn sinh hoạt, đại biểu Lê Thị Ngọc Linh (Đoàn Cà Mau) đề nghị quy định rõ thời hạn bắt buộc thực hiện, có tính đến chênh lệch về hạ tầng thu gom, tập kết và xử lý giữa các địa phương. Từ kinh nghiệm khảo sát mô hình tại Hàn Quốc, đại biểu cho rằng tuyên truyền cần đi cùng quy trình thu gom, xử lý đồng bộ để người dân thuận tiện thực hiện.
Đại biểu kiến nghị thống nhất nguyên tắc phân loại nhưng cho phép địa phương lựa chọn mô hình hai hoặc ba nhóm phù hợp điều kiện thực tế; nơi chưa đủ hạ tầng có thể áp dụng mô hình hai nhóm trong giai đoạn chuyển tiếp. Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm của chính quyền trong bố trí hạ tầng, công khai lịch thu gom, giá dịch vụ và trách nhiệm của đơn vị vận chuyển trong việc giữ riêng các dòng rác đã phân loại.
Cùng quan tâm vấn đề này, đại biểu Nguyễn Bình Tân (Đoàn Cà Mau) cho rằng hiệu quả phân loại chưa bền vững do khâu thu gom, xử lý chưa đồng bộ. Nếu rác đã phân loại tại hộ gia đình nhưng bị trộn chung khi vận chuyển, mục tiêu chính sách khó đạt được. Đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế phí xử lý khuyến khích các hộ phân loại tốt.
Đối với nước thải y tế, ông đề nghị nâng cao tiêu chuẩn xử lý, hỗ trợ công nghệ và kinh phí cho cơ sở y tế, đồng thời tăng cường giám sát, làm rõ trách nhiệm của chủ cơ sở, nhất là cơ sở tư nhân. Đại biểu cũng kiến nghị nghiên cứu tính chi phí xử lý rác ngay từ khâu tiêu dùng sản phẩm, với mức phù hợp đặc tính vật liệu; trong đó, có thể áp dụng mức phí cao hơn đối với sản phẩm nhựa để khuyến khích lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường.
Các ý kiến cho thấy yêu cầu xuyên suốt khi sửa đổi Luật là cải cách thủ tục phải gắn với kiểm soát rủi ro, phân cấp phải đi đôi với nguồn lực và trách nhiệm, còn phân loại rác cần đồng bộ với năng lực thu gom, xử lý. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường, hạn chế ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe người dân.