Nâng cao hàm lượng tri thức, công nghệ để kích hoạt mô hình tăng trưởng mới
VOV.VN - Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ sang dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số bền vững, tạo động lực phát triển mới cho nền kinh tế.
Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khoá XIV vào sáng ngày 20/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm định hướng các đại biểu thảo luận về vấn đề chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người.
Về dài hạn, phải chuyển từ phụ thuộc vào vốn, tài nguyên, gia công, lao động giá rẻ sang dựa vào năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, quản trị hiện đại; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập hiệu quả.
Để làm được điều này, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, trong đó ưu tiên hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực thực thi chính sách, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Về thể chế, GS.TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo (Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh) nhấn mạnh yêu cầu chuyển dịch từ tư duy "quản lý" sang "quản trị, kiến tạo phát triển". Nhà nước cần chuyển từ mô hình “quản lý và kiểm soát” sang “quản trị và phục vụ”, lấy hiệu quả thực thi làm thước đo; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình.
Song song với đó, hệ thống pháp luật phải có tính linh hoạt và khả năng thích ứng cao. Trong bối cảnh công nghệ tài chính, công nghệ chuỗi khối, trí tuệ nhân tạo và tài sản số phát triển nhanh, hệ thống pháp luật cần chuyển từ tư duy quy định, liệt kê sang tư duy nguyên tắc nhằm tránh lạc hậu và tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, GS.TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo cũng cho rằng mặc dù nhiều chủ trương, định hướng lớn về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) đã được ban hành, song hiệu quả triển khai trên thực tế còn hạn chế. Vì vậy cần quyết liệt nâng cao năng lực thực thi, chuyển đổi tư duy đội ngũ cán bộ theo hướng chủ động, dữ liệu hóa và lấy kết quả thực chất làm thước đo. Đồng thời, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát đối với các lĩnh vực mới như AI, công nghệ chuỗi khối, dữ liệu mở, robot tự hành và phương tiện bay không người lái (UAV); chuyển mạnh từ cơ chế "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", xây dựng cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với các hoạt động thử nghiệm công nghệ mới có rủi ro khách quan nhằm khuyến khích doanh nghiệp và nhà khoa học mạnh dạn đổi mới sáng tạo.
Ở góc độ nguồn nhân lực, tại hội thảo “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số", TS. Tô Công Nguyên Bảo, Đại học Kinh tế TP. HCM thông tin: Việt Nam cần tập trung phát triển đội ngũ chuyên gia công nghệ lõi trong các lĩnh vực như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, an ninh mạng, robotics, công nghệ sinh học và năng lượng mới, đồng thời nâng cao chất lượng lực lượng kỹ sư công nghệ và lao động số thích ứng với tự động hóa và AI. Ngoài ra, phải đổi mới căn bản hệ thống đào tạo theo hướng gắn với công nghệ chiến lược và nhu cầu thực tiễn.
“Xây dựng cơ chế thu hút và giữ chân nhân tài theo hướng hệ sinh thái. Chính sách nhân tài cần tạo môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, có quyền tự chủ, khả năng tiếp cận dữ liệu, phòng thí nghiệm và cơ hội thương mại hóa kết quả nghiên cứu; phát triển hệ sinh thái sống phù hợp cho chuyên gia và gia đình; đồng thời phát triển hệ sinh thái nhân lực công nghệ cao theo lợi thế vùng, TS. Tô Công Nguyên Bảo đưa ra định hướng.
Liên quan đến phát triển công nghệ và doanh nghiệp, TS. Nguyễn Kim Đức ở Đại học Kinh tế TP. HCM cho rằng, Việt Nam cần ưu tiên phát triển các công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, dữ liệu, an ninh mạng, robotics, vật liệu mới, công nghệ xanh và sản xuất thông minh. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành trong hoạch định và triển khai chính sách.
Các địa phương cần hình thành các cụm công nghiệp công nghệ cao chuyên biệt dựa trên lợi thế cạnh tranh và định hướng phát triển riêng của từng vùng. Bắc Ninh và Thái Nguyên có thể phát triển cụm điện tử, bán dẫn gắn với chuỗi cung ứng toàn cầu; Đà Nẵng phát triển AI và vi mạch; Lào Cai và Lai Châu phát triển công nghiệp chế biến sâu đất hiếm thay vì xuất khẩu thô.
Song song với đó, Nhà nước cần ưu tiên phát triển doanh nghiệp công nghệ nội địa và nâng cao năng lực R&D tự chủ thông qua các chính sách tín dụng dài hạn, ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu, cũng như mở rộng cơ chế đặt hàng và mua sắm công đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược do doanh nghiệp Việt Nam phát triển.
TS. Nguyễn Kim Đức nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, các trường đại học đảm nhiệm nghiên cứu và doanh nghiệp là lực lượng thương mại hóa công nghệ. Theo đó, Chính phủ cần mở rộng vai trò của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) trở thành đầu mối kết nối startup, doanh nghiệp, quỹ đầu tư và các trường đại học; đồng thời phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm theo mô hình hợp tác công - tư nhằm chia sẻ rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Cùng với đó, việc xây dựng kiến trúc nền tảng số quốc gia thống nhất về chuẩn dữ liệu, kết nối, định danh số, bảo mật và cơ chế chia sẻ dữ liệu sẽ góp phần khắc phục tình trạng phân mảnh, chồng chéo trong đầu tư giữa các địa phương, bộ, ngành, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo bền vững.
Định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ đặt ra yêu cầu thay đổi mô hình tăng trưởng, mà còn xác lập một tư duy phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới. Khi những động lực truyền thống dần suy giảm, việc lấy tri thức, khoa học, công nghệ và con người làm nền tảng sẽ là điều kiện để đất nước tạo dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.