Sửa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Bảo vệ tốt hơn quyền lợi người dân
VOV.VN - Sáng nay (3/8), Quốc hội khóa XVI họp phiên trù bị và khai mạc Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất. Sau đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, việc sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước dựa trên các cơ sở chính trị, pháp lý, cơ sở thực tiễn nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; bảo đảm sự đồng bộ, tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và khắc phục những hạn chế, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành.
6 nhóm nội dung lớn được đề xuất sửa đổi
Theo đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước gồm 2 Điều: Điều 1 sửa đổi, bổ sung 35 điều, bãi bỏ 2 điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành; Điều 2 là điều khoản thi hành. Trong đó, sửa đổi, bổ sung 6 nhóm nội dung lớn như sau:
Về nguyên tắc, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, dự thảo luật kế thừa quy định “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này”, đồng thời bổ sung quy định “Trường hợp luật khác quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước áp dụng theo luật đó”.
Việc bổ sung nội dung trên là để bảo đảm tính khả thi, khắc phục mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với thực tiễn lập pháp của Quốc hội thời gian qua, bởi lẽ tuy Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này” nhưng một số luật khác đã quy định về phạm vi bồi thường của Nhà nước, gần đây nhất là Luật Quản lý thuế mới có hiệu lực từ ngày 1/7/2026; đồng thời tạo sự linh hoạt trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, kịp thời phản ứng chính sách khi thực tiễn đòi hỏi cần quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại các luật khác; bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, tránh tình trạng nhiều luật sửa đổi Luật này.
Tuy nhiên, quá trình xây dựng dự thảo Luật, còn có ý kiến khác nhau về cách thức quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nên Chính phủ trình Quốc hội 2 phương án để tiếp tục thảo luận, cho ý kiến, cụ thể như sau:
Phương án 1: Là phương án Chính phủ lựa chọn và đã được thể hiện trong dự thảo Luật theo hướng bổ sung quy định “Trường hợp luật khác quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước áp dụng theo luật đó”.
Phương án 2: Giữ như quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành, chỉ quy định “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này”.
Về cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự: Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung theo hướng người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự có quyền yêu cầu cơ quan quản lý người thi hành công vụ giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án nhằm bảo đảm tương đồng, thống nhất với việc giải quyết bồi thường trong lĩnh vực khác.
Về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường, dự thảo Luật bổ sung quy định việc ban hành quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp thương lượng không thành, đồng thời, tăng thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.
Về kinh phí bồi thường, dự thảo quy định theo hướng cơ quan giải quyết bồi thường ở cấp nào thì ngân sách cấp đó cấp kinh phí; quy định về kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
Về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, dự thảo Luật bổ sung quy định miễn trách nhiệm hoàn trả trong một số trường hợp cụ thể như: lập công lớn, mắc bệnh hiểm nghèo; lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn.
Về quản lý nhà nước đối với công tác bồi thường nhà nước, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung theo hướng Luật chỉ quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội theo tinh thần của Nghị quyết 66-NQ/TW.
Cần đánh giá kỹ tác động đến ngân sách nhà nước
Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư Pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết, Ủy ban cơ bản tán thành với phạm vi sửa đổi, bổ sung của dự thảo luật.
Tuy nhiên, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cũng đề nghị Chính phủ chỉ đạo tiếp tục rà soát các nội dung nêu trong báo cáo thẩm tra đầy đủ để nghiên cứu chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật, bảo đảm quán triệt sâu sắc hơn nữa quan điểm về đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo luật với hệ thống pháp luật; tiếp tục rà soát về nguồn tài chính, nguồn nhân lực để bảo đảm quá trình tổ chức thi hành luật khả thi, hiệu quả.
Với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đề nghị đánh giá kỹ tác động đối với ngân sách nhà nước do mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và lĩnh vực quản lý thuế.
Về nguyên tắc áp dụng pháp luật (điểm a khoản 2 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4), đa số ý kiến trong Ủy ban tán thành với phương án 2 được nêu trong Tờ trình của Chính phủ (giữ nguyên quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành) do nguyên tắc này đã được quy định và thực hiện nhất quán từ khi ban hành Luật đến nay, là căn cứ quan trọng để xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước, cần quy định tập trung trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để bảo đảm minh bạch, khả thi, tránh tình trạng mở rộng không có căn cứ phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các luật khác.
Bên cạnh đó, một số ý kiến trong Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và một số cơ quan của Quốc hội tán thành với phương án 1 của Chính phủ trình (như quy định của dự thảo Luật) để bảo đảm tính ổn định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, khắc phục tình trạng phải sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi luật chuyên ngành quy định các trường hợp mới về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nhất là trong bối cảnh thực tiễn hiện nay có nhiều biến động, quy định như Phương án 1 sẽ linh hoạt hơn trong xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bảo đảm tính kịp thời, phúc đáp yêu cầu thực tiễn.
Về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý thuế (khoản 6 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 9 Điều 17 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước), nhiều ý kiến trong Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị giữ quy định như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành và cho rằng tại Tờ trình của Chính phủ đề nghị sửa đổi khoản 9 Điều 17 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với quy định tại Điều 37, Điều 38 của Luật Quản lý thuế là chưa thực sự thuyết phục, bởi vì các lý do sau: Quy định của Luật Quản lý thuế chỉ dẫn chiếu đến pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành quy định 4 nhóm hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực quản lý thuế làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là phù hợp, bảo đảm thống nhất với Luật Quản lý thuế.
Việc dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không quy định cụ thể các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà dẫn chiếu trở lại Luật Quản lý thuế làm mở rộng phạm vi bồi thường từ 4 nhóm hành vi lên hơn 10 nhóm hành vi dẫn tới việc thay đổi chính sách lớn, tác động đối với ngân sách nhà nước, nguồn nhân lực và hiệu quả quản lý thuế mới cần được đánh giá tác động kỹ lưỡng mới có cơ sở bổ sung vào dự thảo Luật.
Trong quá trình tham gia góp ý vào dự thảo Luật, Bộ Tài chính nhiều lần có ý kiến đề nghị giữ quy định này như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành. Nội dung sửa đổi, bổ sung này chỉ dẫn chiếu chung đến Luật Quản lý thuế, chưa quy định rõ hành vi cụ thể, có thể dẫn đến cách hiểu, cách vận dụng không rõ và không thống nhất trong thực tế.
Một số ý kiến trong Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành với quy định của dự thảo Luật vì Luật Quản lý thuế đã mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo hướng không giới hạn trong một nhóm hành vi cụ thể nào. Như vậy, dự thảo Luật lần này sửa đổi khoản 9 Điều 17 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành theo hướng dẫn chiếu đến Luật Quản lý thuế nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với Luật Quản lý thuế.