Sức mạnh chiến tranh nhân dân trong đại thắng mùa xuân 1975

Sức mạnh chiến tranh nhân dân trong đại thắng mùa xuân 1975

VOV.VN - Thiếu tướng Vũ Quang Đạo: “Sức mạnh làm nên chiến thắng là sức mạnh chiến tranh nhân dân, trong đó lực lượng vũ trang và quân đội là nòng cốt"

Một trong những nhân tố tạo nên sức mạnh áp đảo, quyết định thắng lợi trong Đại thắng mùa xuân 1975 là sức mạnh chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sức mạnh đó tiếp tục được toàn Đảng, toàn quân và dân ta gìn giữ, bồi đắp và phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Phóng viên VOV.VN phỏng vấn Thiếu tướng, PGS.TS Vũ Quang Đạo-nguyên Viện trưởng Viện lịch sử quân sự về nội dung này.

suc manh chien tranh nhan dan trong dai thang mua xuan 1975 hinh 1 Thiếu tướng Vũ Quang Đạo - nguyên Viện trưởng Viện lịch sử quân sự

PV: Sức mạnh chiến tranh nhân dân đã được thực hiện như thế nào trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, thưa Thiếu tướng?

Thiếu tướng Vũ Quang Đạo: Nói đến chiến tranh là nói đến sức mạnh của quân đội, sức mạnh của lực lượng vũ trang. Song phải khẳng định, cuộc chiến tranh của chúng ta là cuộc chiến tranh nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sức mạnh để chiến thắng đó là sức mạnh chiến tranh nhân dân, trong đó lực lượng vũ trang và quân đội là nòng cốt.

Đối với quân đội, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 chúng ta đã huy động sức mạnh toàn quân cùng với toàn dân. Trước hết, về lực lượng vũ trang địa phương, trên cả 2 miền Nam-Bắc, lực lượng vũ trang địa phương cùng với dân quân du kích đã làm chủ tất cả địa bàn, nhất là địa bàn trọng yếu trên chiến trường. Những lực lượng này có vai trò hết sức quan trọng ở chỗ giam chân lực lượng chủ lực của địch. Khi địch đánh bằng bằng lực lượng chủ lực, thì chúng ta đánh địch không chỉ bằng lực lượng chính quy mà còn cả lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, du kích. Chính lực lượng này đã kéo địch ra, làm cho chúng không thể tập trung binh lực. Đó là điều hết sức đặc biệt của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Nhờ có thế trận đó mà lực lượng chủ lực của chúng ta có thể rảnh tay đối phó và mở ra những chiến dịch lớn. Đó là vấn đề cần khẳng định vai trò của bộ đội địa phương, dân quân du kích.

Về lực lượng chủ lực, chúng ta đã có bước phát triển nhanh chóng. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chúng ta có 5 sư đoàn chủ lực, đến kháng chiến chống Mỹ, trên cơ sở sư đoàn chủ lực đó phát triển thêm nữa. Và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, chúng ta có 4 quân đoàn và 1 binh đoàn tương đương 1 quân đoàn. Vì khi kết thúc chiến tranh, phải có những “cú đấm” quyết định, mà những lực lượng đó phải là lực lượng chủ lực.

Sự thành lập các quân đoàn này không phải là vấn đề số lượng mà đó là sự phát triển của trình độ tổ chức chỉ huy bộ đội của quân đội nói chung và của đội ngũ cán bộ chỉ huy nói riêng, đã phát triển đến mức có thể tạo lập và chỉ huy những quân đoàn lớn như vậy. Những lực lượng này đã đóng vai trò xứng đáng trong chiến trường miền Nam thời kỳ Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.

Ngoài ra, nói đến bộ đội là phải nói đến tác chiến. Có thể nói không bao giờ trình độ nghệ thuật quân sự chỉ huy tác chiến của chúng ta phát triển nhanh, mạnh đến đỉnh cao như trong đại thắng mùa xuân năm 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh. Mở đầu cho thời kỳ đó là chiến dịch Tây Nguyên với trận then chốt Buôn Ma Thuột. Trận then chốt Buôn Ma Thuột đánh dấu sự sắc sảo về việc lựa chọn chiến trường, lựa chọn mục tiêu, lựa chọn trận then chốt đồng thời cũng là đỉnh cao của sự mưu lược nghi binh lừa địch, tạo thế trên chiến trường Tây Nguyên làm cho quân địch hoàn toàn bất ngờ. Cộng thêm đó là sai lầm mang tính chiến lược của chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn phải rút khỏi Tây Nguyên. Từ đó tạo thời cơ quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975.

suc manh chien tranh nhan dan trong dai thang mua xuan 1975 hinh 2 Xe tăng Lữ đoàn 203 chiếm Dinh Độc Lập (Ảnh: Nhà báo-NSNA Đinh Quang Thành)
Sau chiến dịch này, thừa thắng chúng ta cắt duyên hải miền Trung làm phía Bắc miền Nam Việt Nam và phía Nam chia cắt chiến lược. Đó là thời cơ để mở chiến dịch Trị Thiên Huế và chiến dịch Đà Nẵng. Sau khi giải phóng Huế, Đà Nẵng, gần như chính quyền Ngụy-Sài Gòn sụp đổ chỉ còn tính bằng ngày và giờ.

Chính vì thế, chúng ta giải quyết việc giải phóng còn lại, trong đó có 2 cửa ngõ cần giải quyết khá căng thẳng là lá chắn thép Phan Rang và khu vực Xuân Lộc-Long Khánh. Khi mở toang được 2 cánh cửa thép này thì vấn đề Sài Gòn được giải phóng chỉ còn tính bằng giờ. Cùng với cánh quân hướng Đông, cánh quân Duyên Hải, lực lượng chủ lực còn có 5 cánh quân khác cùng với lực lượng quần chúng, lực lượng vũ trang nổi dậy ở nội đô, vì vậy chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ diễn ra từ 26 đến trưa 30/4 đã kết thúc, toàn thắng.

Qua đó có thể thấy rằng quân đội nói chung và bộ đội chủ lực nói riêng đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử mà dân tộc đã trao cho trong những giờ phút quyết định. Sở dĩ bộ đội chủ lực và quân đội làm được việc đó là nhờ phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trên nền chiến tranh nhân dân trong đó có sự tham gia của nhân dân, bộ đội địa phương, dân quân du kích ở tất cả các địa phương. Đó còn là thắng lợi từ sức mạnh hậu phương XHCN nối liền với các nước XHCN lúc đó chi viện cho chiến trường. Nói đến bộ đội mà không nói đến hậu cần, hậu phương thì không thể thắng được. 

PV: Vậy sức mạnh này đã được chúng ta gìn giữ, bồi đắp và phát huy như thế nào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay?

Thiếu tướng Vũ Quang Đạo: Hiện nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta vẫn giữ quan điểm thực hiện quốc phòng toàn dân kết hợp an ninh nhân dân trên nền tảng toàn dân bảo vệ Tổ quốc. Trong quan điểm đó, quân đội vẫn được xác định là lực lượng nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, cùng với Công an nhân dân.

Cho đến nay, chúng ta đã giải quyết được các vấn đề: Một là, tiếp tục giáo dục, động viên toàn dân phát huy tinh thần yêu nước trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, ủng hộ quân đội và lực lượng vũ trang, cùng toàn dân sẵn sàng tham gia tác chiến khi đất nước lâm nguy. Thứ hai, chúng ta đã phát triển lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp ở tất cả các địa phương. Thứ ba, chúng ta đã xây dựng và phát triển các khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc hơn. Tiếp tục hoàn chỉnh về chính sách, pháp luật, cơ chế, điều kiện vật chất về trang thiết bị; đặc biệt là tổ chức chỉ huy các khu vực. Qua các cuộc diễn tập, trình độ tổ chức chỉ huy ở khu vực phòng thủ hiện nay rất tốt.

Trong xây dựng quân đội, chủ trương của chúng ta vẫn tiếp tục xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có những quân chủng và binh chủng tiến thẳng tới hiện đại như Hải quân, Phòng không không quân.

Nhìn chung trên nền đó, vấn đề quan trọng hàng đầu quyết định bản chất và sức mạnh quân đội đó phải là quân đội cách mạng dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó với nhân dân, với Tổ quốc. Quân đội trong thời bình, chúng ta vẫn giữ các đầu đơn vị như vậy theo hướng tinh, gọn, tăng cường chất lượng huấn luyện làm sao để có thể tác chiến khi cần thiết và tăng cường cơ động.

Quân đội đó phải được trang bị cần thiết trong điều kiện hoàn cảnh kinh tế Việt Nam cho phép và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Trong điều kiện đó, chúng ta vẫn chủ trương sử dụng, giữ tốt, dùng bền những trang bị hiện có, làm chủ những thứ đó đồng thời mua sắm những vũ khí hiện đại và tương đối hiện đại để trang bị cho một số quân chủng và binh chủng. Song vấn đề quan trọng hàng đầu vẫn là chất lượng con người, trình độ đội ngũ, cán bộ, chiến sĩ đủ khả năng làm chủ vũ khí và khoa học hiện đại.

Với cách giải quyết như vậy, nền quốc phòng toàn dân sẽ bảo đảm thực hiện được những nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, giữ vững hòa bình độc lập, tạo lập môi trường hòa bình cho đất nước cất cánh thời kỳ hội nhập.

PV: Chiến tranh đã lùi xa 40 năm nhưng hậu quả của nó vẫn còn đó. Chúng ta đang thực hiện đền ơn đáp nghĩa với những người có công, gia đình thương binh liệt sỹ và chuyện hoà hợp, hoà giải dân tộc. Thiếu tướng nghĩ sao về vấn đề này?

Thiếu tướng Vũ Quang Đạo: Vấn đề hòa hợp dân tộc có nhiều cách hiểu và tầng nấc khác nhau. Nói đến hòa hợp dân tộc nhưng phải trên nền tảng thống nhất về mục tiêu là mỗi người dân Việt Nam yêu nước phải có tấm lòng đối với Tổ quốc, đất nước. Đất nước ta là đất nước hòa bình, nằm trong xu thế hội nhập quốc tế theo chế độ XHCN. Chúng ta sẵn sàng đón nhận những con dân Việt Nam trong gia đình đại đoàn kết dân tộc ấy.

Thực tế cho thấy vẫn còn một số người chưa nhận rõ vấn đề này thì chúng ta phải thuyết phục, giáo dục lẫn nhau để tạo nên một cộng đồng dân tộc Việt Nam đoàn kết trên cơ sở chủ nghĩa xã hội, đảm bảo sự thống nhất Tổ quốc; đoàn kết trên cơ sở tạo ra môi trường tốt nhất cho sự phát triển của đất nước trong tình hình mới.

Cách hiểu về hòa hợp dân tộc không có nghĩa xóa nhòa tất cả. Quá khứ là chuyện của quá khứ. Chúng ta sẵn sàng tha thứ, bỏ qua những người lầm đường, lạc lối như Bác Hồ đã từng nói: “Năm ngón tay có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay, trong mấy triệu người cũng có người thế này, người thế khác, nhưng cả thảy đều là dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ; có thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang''.

Tất cả người Việt Nam đều có quyền đứng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam thời kỳ hiện nay. Điều đó là mong ước cháy bỏng của chúng ta để tạo nên sức mạnh đoàn kết, thống nhất để gia tăng sức mạnh của đất nước, đủ năng lực để tham gia hội nhập, đủ sức cạnh tranh với bạn bè quốc tế.

PV: Xin cảm ơn Thiếu tướng./.

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Video đang được xem nhiều

Tiêu điểm

TIN MỚI TRÊN VOV.VN