Bên kia sông Đuống
“Em ơi, buồn làm chi. Anh đưa em về sông Đuống. Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ”
Câu thơ ấy đọng mãi trong tâm hồn chúng tôi về một vùng quê mẹ thân thương, lại càng trở nên sâu sắc trong chuyến “hành hương” một ngày đầu hè. Không hiểu có phải là trời đất thương tình không mà hôm chúng tôi về “bên kia sông Đuống”, trời mát, nắng nhẹ...
Chúng tôi qua Thuận Thành, xuôi theo con đê nhỏ, qua làng tranh Đông Hồ. “Xanh xanh bãi mía bờ dâu, ngô khoai biêng biếc”, chúng tôi đến một vùng đã lưu giữ một truyền thuyết thuộc loại lâu đời nhất trong lịch sử dân tộc: truyền thuyết về Kinh Dương Vương, “Thủy tổ nước Nam”.
![]() |
| Hoàng hôn trên sông Đuống (Ảnh: Phạm Tuấn Anh) |
Ngôi đền và lăng thờ Kinh Dương Vương nằm gọn ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Lăng ở ngoài đê, nơi dòng sông Đuống chảy qua, trông sang chùa Phật Tích, nhìn rõ tượng Phật lớn tọa trên đỉnh núi, xuôi theo dòng về đến Lục Đầu Giang gặp Kiếp Bạc. Đền nằm trong đê, theo đường bộ về thành phố Bắc Ninh, qua chùa Bút Tháp, chùa Dâu đều tiện.
Bia đá đặt từ thời Minh Mạng (1840) dựng trước lối vào lăng ghi rõ sự tích Kinh Dương Vương. Sách sử xưa “Đại Việt sử ký toàn thư”, sách ngày nay: “Từ điển Bách khoa” (Việt Nam) đều chép rằng: Kinh Dương Vương (khoảng thiên niên kỷ thứ 3 trước công nguyên) là người thành lập nhà nước sơ khai đầu tiên của nước ta, lấy tên nước là Xích Quỷ (tên một vì sao sáng nhất có sắc đỏ trong “nhị thập bát tú”).
Kinh Dương Vương tên là Lộc Tục, làm vua phương Nam, đóng đô ở Ngàn Huống (nay là dãy Hồng Lĩnh thuộc huyện Can Lộc - Hà Tĩnh), sau chuyển ra khu vực Ao Việt (nay thuộc Việt Trì - Phú Thọ) xây dựng thành cổ tại núi Nghĩa Lĩnh. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân, sinh con là Sùng Lãm (còn gọi là Lạc Long Quân). Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, đẻ ra bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con, là tổ tiên của người Việt phương Nam. Con trai trưởng là Hùng Vương, sau làm vua nước Văn Lang.
Từ đời Lý, Kinh Dương Vương đã được tôn là “Thủy tổ nước Nam”, lăng và đền thờ đặt tại vị trí ngày nay. Qua bao biến thiên của lịch sử, lăng và đền vẫn tồn tại, được các triều đại phong kiến Việt Nam, gần đây nhất là triều Nguyễn, dâng nhiều đạo sắc phong, bốn mùa thờ cúng. Ngày 18 tháng Giêng âm lịch hằng năm, dân vùng Kinh Bắc, dân Việt ở bốn phương đổ về thôn Á Lữ dự lễ hội. Lễ hội đền thờ Kinh Dương Vương còn diễn ra sớm hơn lễ hội Đền Hùng.
Cùng họa sĩ Mai Văn Kế, người đã mách tôi “có một ngôi đền như thế” ở Thuận Thành, chúng tôi vào thắp hương tại lăng. Chín năm kháng chiến chống Pháp, Đại Đồng bị giặc Pháp chiếm đóng, lăng bị hư hại nhiều, mới được trùng tu. Ngôi lăng nhỏ bé, lọt thỏm giữa một vườn cây rậm rạp. Gió mát thổi, những tán xà cừ, tán đa cuộn theo gió. Thoảng trong gió là hương của hàng nghìn bông hoa lan trắng xóa trên cây. Nhìn trời, nhìn đất, nhìn gió, nhìn cây, tôi có cảm giác như vẫn đâu đây anh linh của các bậc tổ tiên đang phù hộ, độ trì cho đất nước, dân tộc.
Thong thả uống ngụm chè vối, chúng tôi lắng nghe ông thủ từ kể về sự tích của lăng. Giọng ông chợt vui hẳn lên: Ngày 16/5/2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết về thắp hương. Trước đó, theo dòng sông Đuống, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã thăm và thắp hương tại một số di tích lịch sử - văn hóa. “Lành thay”, ông thủ từ nói. Thắp hương tại lăng xong, Chủ tịch nước lên ca nô đi tiếp thì trời đổ cơn mưa nhẹ. Chúng tôi đã được xem bút tích của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết gửi dân làng, cảm ơn nhân dân địa phương đã dày công từ bao đời nay gìn giữ và thờ cúng “Tam vị Thánh tổ” là Kinh Dương Vương, Quốc tổ Lạc Long Quân và Quốc mẫu Âu Cơ.
Không ồn ào, không phô trương, đấy là tấm lòng hướng về tổ tiên của những người con dân nước Việt ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng. Và sự gắng sức ấy được nhiều người noi theo.
Trước khi rời lăng vào lễ tại đền, họa sĩ Mai Văn Kế, tác giả của bức tranh gốm sứ “Ngày hội non sông trên đất Tổ” đặt tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, còn dặn đi dặn lại kíp thợ đang đào móng đặt đôi rồng đá vươn mình từ mép sông lên đến cổng đền: “Phải đặt đầu rồng trên một bệ đá, triệt tiêu được lực trôi từ trên xuống. Có thế, mới vững bền”. Họa sĩ Mai Văn Kế cho biết, đôi rồng đá này do một doanh nghiệp cung tiến, đặt hai bên lối từ bến thuyền lên đến cổng lăng.
Tiếp chúng tôi trong đền thờ "Tam vị Thánh tổ", ông Biện Xuân Phẩm nói như reo: “Hôm qua, cả 4 bát hương trong đền đều hóa hết chân hương. Chúng tôi đoán thế nào hôm nay cũng có khách quý”.
Ông Biện Xuân Phẩm năm nay 64 tuổi, người xương xương, đôi mắt tinh anh. Ông nối nghiệp cha, làm thủ từ nhiều năm nay ở đền. Là con một nhà nho, lại võ vẽ tiếng Pháp, lại tự học rất nhiều để có thể đọc vanh vách những chữ Hán ghi trên các bức đại tự, hoành phi, câu đối và sắc phong của vua các triều Nguyễn.
Vào đền, chúng tôi mới hiểu tại sao thờ “Tam vị Thánh tổ” mà có đến “4 bát hương”. Cũng như ở Lăng Kinh Dương Vương, bên cạnh ban thờ “Tam vị Thánh tổ”, đền còn có một ban thờ riêng, thờ Bác Hồ.
Lúc này nắng đã lên, nhưng cũng không làm nóng cái sân gạch trước đền. Giới thiệu với chúng tôi về dự án tôn tạo và nâng cấp đền thờ, ông Biện Xuân Phẩm nói rất thật: "Dân làng tôi mong Lễ hội của làng được như Lễ hội Đền Hùng".
Thôn Á Lữ vẫn còn giữ được dáng vẻ của làng quê vùng Kinh Bắc, trên bến dưới thuyền. Từ trên đê rẽ vào làng, rẽ vào đền, đường sá sạch sẽ phong quang. Lác đác có vài ba hàng bán hương hoa cho người đi lễ. Đền thờ Kinh Dương Vương có 3 gian: Đền Thượng thờ Kinh Dương Vương; Đền Trung thờ “Đại đế Lạc Long Quân”; Đền Hạ thờ Hoàng hậu Âu Cơ. Kế bên đền là một ngôi chùa. Trước cổng đền (Thủy tổ đài môn) quang quẻ, vắng lặng. Tôi thầm nghĩ: Bây giờ lễ hội Kinh Dương Vương mà lại đông vui, nhộn nhạo thì còn gì là làng quê thân yêu nữa. Và thốt ra lời: “Bác ơi, bây giờ mà tôn tạo, nâng cấp cho to ra, em sợ làng quê mình mất hết vẻ đẹp chân quê, bác ạ”.
Nãy giờ, cứ im lặng nghe chúng tôi trò chuyện, bà Nguyễn Thị Nghiêm, là thủ nhang ngôi chùa cạnh đền, mới thẽ thọt: “Thì bao đời nay, dân làng em hương hoa, đèn nhang tổ tiên, gìn giữ, tôn tạo phần lớn do dân đóng góp, có dám đòi hỏi gì đâu. Nhưng cũng mong để bà con cả nước biết đến câu chuyện có một làng quê từ bao đời nay được thờ cúng đấng Thủy tổ nước Nam chứ ạ”.
Chúng tôi từ biệt thôn Á Lữ mà lòng cứ bộn rộn, chỉ mong có nhiều dịp trở lại nơi này. Văng vẳng bên tai là lời nhắn nhủ: Bao giờ về bên kia sông Đuống/ Anh lại tìm em/ Em mặc yếm thắm/ Em thắt lụa hồng/ Em đi trảy hội non sông/ Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh (thơ Hoàng Cầm, chép từ sổ tay).
Có ai về bên kia sông Đuống
Cho chúng tôi thắp một nén hương trầm
Dâng lên Thủy tổ nước Nam
Cầu cho đất nước ngàn năm thanh bình./.
