Bài trí và ý nghĩa của bàn thờ tổ tiên ngày Tết

Bàn thờ tổ tiên là một nơi dung tụ cốt cách của từng nhà, song nó cũng có bóng dáng chung của tâm hồn dân tộc.  

Vì thế người Việt Nam luôn có ý thức dồn vào đó tất cả vẻ đẹp hình thức mà khả năng có được, nhất là vẻ đẹp hình thức mà khả năng có được, nhất là vẻ đẹp tâm linh. Tuy nhiên, theo dòng chảy của thời gian mà truyền thống như tàn phai dần, nhiều khi người ta quên những kết tụ văn hoá từ ngàn xưa, để rồi ứng xử với kiếp đời đã qua bằng sự đơn bạc. Vậy thì thực chất bàn thờ trong nhà là gì?

Người Việt thường coi thần linh là hoá thân nhân cách của khối “sinh lực vũ trụ” tuy bàng bạc nhưng trường tồn, vừa khó xác định, vừa có mặt ở khắp mọi nơi. Những thần linh cụ thể chỉ là biểu hiện của nhận thức dân dã trong một số điều kiện nhất định nào đó thuộc về sinh hoạt tinh thần. Và mỗi con người, để tồn tại, đã “vay mượn” một mảnh sinh lực thiên nhiên ấy làm linh hồn riêng, mảnh linh hồn đó đã được coi là bóng dáng của một dạng thần linh, có khả năng chi phối tới nhiều mặt của những người thân thuộc. Người Việt tuy chưa đẩy thần linh lên quá cao, nhưng thần linh thường trực ở miền thiên quốc, phá bên trên. Mà tầng trên đó, nếu không được giải đáp theo những tôn giáo lớn thì đã khá mơ hồ, gần hay xa ở đâu? Nào ai biết. Nhưng, một hiện diện gần là bàn thờ. Trước hết, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, có thể hình dung như một thế giới thu nhỏ của người đã khuất, ở đó có hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời mặt trăng, còn hương là tinh tú. Từ những đặc tính cơ bản này, người Việt đã hội dần vào bàn thờ nhiều hình tượng phụ mang tính thiêng liêng khác. Có thể kể tới một “trục vũ trụ” là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu, vươn lên trong bát hương. Trục này mang ý nghĩa tinh thần, được coi như gạch nối giữa trời và đất, cho âm dương đối đãi đem tới mọi nguồn hạnh phúc. Hai bên bát hương, phía sau hai cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy, với nhiều bông nhỏ bao quanh một bông lớn, hai cành hoa này tượng trưng cho ngày dương (hoa vàng) bên trái, đêm, âm (hoa bạc) bên phải.

Nhiều gia đình đã đặt xen giữa đèn và hương là hai cái đĩa để đặt hoa quả lễ, hay đặt phía trước bát hương là một bát nước trong, coi như nước thiêng, mang tư cách Tụ Thuỷ (cũng là tụ phúc). Đằng sau bát hương, với nhà giàu thường có đỉnh trầm bằng đồng trang trí nhiều hình được linh thiêng hoá như lân ở đỉnh, tượng trưng cho sự thông minh, sáng suốt, sức mạnh để kiểm soát tâm hồn người hành lễ, hổ phù mang tư cách cầu no đủ, hoặc cây trúc biểu hiện tính quân tử. Ngoài ra, trên bàn thờ của những gia đình theo Phật giáo phổ biến còn bày một chiếc độc bình lớn nhằm đề cao tâm không của đạo Phật. Vào ngày Tết, một cành đào được cắm vào lọ này vì đào có huyền lực trữ ma tà và mọi xấu xa, đồng thời màu đỏ của nó được cho là chứa một sinh khí lớn lao. Cho nên hoa đào thắm là lời cầu nguyện và lời chúc phúc ngày đầu xuân.

Hiện tượng cầu phúc đôi khi được hội vào lọ một cành hoa rte (que tre vót bùi nhùi ở một đầu) nhuộm ngũ sắc gần như cây đũa trên bát cơm cúng cho kiếp đời đã qua, nhưng bùi nhùi to hơn và thân mảnh hơn. Nhiều người cho rằng đó là bóng dáng dẫn xuất từ chiếc Linga (biểu tượng gắn với sự sinh sôi). Nhiều nơi, nhất là vùng quê có nghề mộc truyền thống thì trên bàn thờ thường có chiếc khảm, trong đó đặt bài vị để “Lâm, Trần, hoặc Nguyễn... môn tiên tổ”. Khám và bàn thờ được trạm trổ rất kỹ với hình tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) hoa cỏ thiêng liêng, hoặc biểu tượng tự nhiên được nghệ thuật hoá. Khu chuẩn bị đón ngày tết, ở những nhà nghèo nông thôn, không có chiếc khảm, người ta thường treo lên tường phía trên bàn thờ một tranh dân gian nhiều màu vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư... để cầu sự đầy đủ no ấm cả năm, đồng thời, mặt nào đó cũng làm sáng căn nhà cổ truyền vốn thấp và ít cửa. Nhưng nhà theo đạo Phật ít bày đồ mặn trên bàn thờ chính mà thường bày thấp hơn để tránh sự uế tạp và để hồn tổ tiên dễ siêu thoát. Người ta còn đặt đứng cây mía ở bên bàn thờ và thường nói là để các cụ chống gậy về vui với con cháu. Thực ra, từ xưa cây mía đã là một cây linh thiêng gắn với câu chuyện tạo thiên lập địa của cư dân hải đảo. Mía được du nhập vào đất Việt phần nào thành một thứ “trục vũ trụ” - gạch nối tầng trên với tầng dưới, để dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về với con cháu. Con người thường nghĩ thần linh và tổ tiên là ở tầng trên, mà thần linh chi phối đến con người cần phải có cách nào đó liên hệ với thế giới ấy.

Khi phát hiện ra lửa người ta nhận thấy chỉ có khói bay lên và dần nảy sinh nến và hương trong việc tín ngưỡng: Trước ban thờ, người xưa thường đòi hỏi kẻ hành lễ phải tâm thanh, lòng tĩnh, chí tâm, chí thành... thắp hai ngọn nến tượng trưng cho hai vầng nhật nguyệt là đủ, tiếp đó là một nén tâm hương để hướng tới mọi điều tốt lành, vì tâm hương có nghĩa ngũ hương (Giới hương: giữ được điều luật cho tâm được trong sạch mà thơm; đinh hương, giữ được tâm thông hiểu, không lầm lạc mê muội mà thơm). Nhờ đó dẫn tới giải thoát hương, thoát lìa khỏi mọi sự trói buộc của dục vọng, của mê lầm, ra khỏi sự khổ đau. Giải thoát tri kiến hương: hiểu biết sâu sắc và giữ gìn được mọi điều tốt lành để ngà càng tịnh tiến về lẽ giải thoát, hợp cả ngũ hương lại là pháp sự việc nào đó được tiến triển vì số lẻ 3 dẫn tới động chuyển, biến đổi, phát triển... ít khi trên bàn thờ tổ tiên người ta thắp hương ngoài các con số này. Nhưng người Việt còn luôn có ý thức: “Phải vì cuộc sống” cho nên hay quan tâm tới hướng của bàn thờ. Thông thường hướng nhà (lấy vợ hiền  hoà, làm nhà hướng nam) theo đạo Phật thì hướng Nam là nơi của bát nhã tức trí tuệ, nhờ thế mà minh mẫn không bị lầm lạc, ngoài ra đây là hướng của sự sáng tạo, của sinh lực tràn trề, đầy dương khí. Hướng này ngày càng được củng cố, nhất là khi ảnh hưởng của văn hoá phương Bắc, rằng “thánh nhân nam diện nhi thánh thiên hạ” (thánh nhân - tức thần linh hướng Tây) người ta nghĩ, hướng này hợp với sự đối đãi của âm dương, nên yên ổn và phát triển, có nghĩa là vị thần được an toạ (mặt là dương quay hướng Tây – âm, lưng là âm tựa vào hướng Đông – dương; tay trái là âm ở hướng Nam – dương, tay phải là dương ở hướng Bắc – âm, như thế là hợp thế).

Suy cho cùng, tất cả vì lòng người, vì một tâm tư hướng thiện. Bàn thờ tổ tiên là vẻ đẹp của văn hoá truyền thống, nơi đây rực rỡ với mỗi độ xuân sang, vì xuân là khởi đầu của một năm mà trong vòng quay thời gian nông nghiệp đôi khi nó được đồng nhất với thời kỳ khởi đầu của loài người. Vẻ đẹp ấy dần kết tinh lại thành thần linh và tổ tiên. Người Việt hiểu một cách sâu sắc rằng có quá khứ mới có hiện tại và tương lai. Và bậc trí giả nhìn vào nơi thờ thần, tổ tiên để thấy truyền thống vàvẻ đẹp truyền thống dân tộc. Còn kẻ tiểu nhân nhìn vào đó chỉ thấy mê tín dị đoan./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.